
Tư vấn viên
Tư vấn viên
Tư vấn viên
|
|
Thống kê |
|
Số lượt truy cập: 216931
|
|
 
|
|
|
Nguồn: Website SGTT
|
Cập nhật: 07/12/2009, 09:34:54
|
Ngày 5/12/2009, liên hoan ẩm thực “Món ngon các nước 2009” đã diễn ra hai hội thi: chung kết Pizza toàn cầu và món ngon các nước. Món bánh xèo củ hủ dừa đạt điểm cao nhất trong 22 món ăn tham dự hội thi Món ngon các nước 2009.
Hội thi món ngon có 22 món ăn của các đầu bếp: món gà hầm ngũ quả đại diện cho nhà hàng Thiên Hồng, tuyết hoa cá chẽm của nhà hàng Đồng Khánh, lẩu chua cay nam của gian hàng Một thoáng miền Tây, Hàn Quốc có sườn non hấp táo, sườn non hải sản, nhà hàng Thái House góp mặt với món gỏi đu đủ Thái, đại diện Ý là món tôm xào nấm Địa Trung Hải, hàng Lion City của Singapore dự thi món cua xào ớt, hải sản cuốn, trứng đặc biệt. Bánh xèo Ăn Là Ghiền dự thi món bánh xèo củ hủ dừa, … Mỗi một món ăn dự thi là mỗi hương vị riêng, mỗi ý nghĩa riêng của từng vùng miền, từng quốc gia. Chẳng hạn, tôm xào nấm Địa Trung Hải của Ý với 3 màu sắc xanh của rau, đỏ của tôm được trình bày trên chiếc đĩa sứ trắng thể hiện cho 3 màu cờ của Ý.
Kết thúc cuộc thi “Món ngon các nước 2009”, có tất cả 8 món ăn đạt huy chương vàng, 11 món giành huy chương bạc và 2 món huy chương đồng. Món bánh xèo củ hủ dừa đạt điểm cao nhất trong 22 món ăn tham dự bởi sự phối hợp giữa vị giòn, béo, ngọt, thơm của bột bánh lẫn củ hủ dừa, màu vàng của bánh từ nguyên liệu bột nghệ nổi bật trên nền xanh của rau sống xanh tươi được trưng bày trên chiếc thuyền nhỏ với bông lúa, dừa xanh, hoa thiên điểu, bởi đôi bàn tay khéo léo, tài hoa của đầu bếp. Món này còn được minh họa bởi 4 câu thơ:
“Bánh xèo là cái bánh xèo
Đổ bột tráng bánh cái vèo là ăn
Bánh xèo là cái bánh xèo
Khi ăn phải bốc giàu nghèo như nhau”
Cuộc thi Pizza toàn cầu cũng đã chọn ra vị đầu bếp xuất sắc nhất tham dự cuộc thi Global Pizza quốc tế tại Melbourne, Úc vào tháng 3 năm sau. Đạt huy chương vàng là đầu bếp Nguyễn Duy Khương đến từ trường Gia chánh Đồng Nai (Rosa School).
Huy chương bạc và đồng thuộc về hai thí sinh: Hoàng Huynh - đầu bếp của nhà hàng Scoozi Pizza TP.HCM và Đỗ Lãm – đầu bếp nhà hàng Buddha Bar&Grill.
|
Đó là ý kiến của nhà marketing nổi tiếng, ông Philip Kotler trong buổi hội thảo "Marketing mới cho thời đại mới" ngày 17/8/07 tại TPHCM với hàng trăm nhà doanh nghiệp VN tham dự. Ông nói mỗi quốc gia đều phải có những sản phẩm mang tính quốc tế, mà hễ nói đến sản phẩm đó là người ta nghĩ ngay đến là của quốc gia đó. Ông nói tiếp, hiện nay Trung Quốc là "công xưởng" của thế giới, Ấn Độ là "văn phòng" của thế giới. Còn Việt Nam tại sao không trở thành "bếp ăn" của thế giới? Philip Kotler đặt câu hỏi như vậy. Theo ông thì Việt Nam có khá đầy đủ nguồn lương thực, thực phẩm - đây là thế mạnh của Việt Nam có thể phát triển và cung cấp cho thế giới. Đây là một gợi ý đáng suy nghĩ...
VN có một nền ẩm thực rất phong phú đa dạng. Chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, các món ăn VN có nét gần giống với người bạn láng giềng, nhưng đồng thời, người Việt cũng biết chế biến sao cho hợp khẩu vị với mình và mang đặc tính riêng. Món ăn VN không "quá nhiều dầu mỡ" như Trung Hoa, không "quá nhiều bơ sữa" như món tây, không "tái sống" như Nhật Bản. Món ăn VN hầu hết là món ăn nóng và cũng "fast" như KFC của Mỹ (Tại sao ko thể coi phở, hủ tiếu, bún bò VN là fastfood?).
Loạt bài lần này tui xin được giới thiệu những món VN phổ biến nhất, hầu như ai cũng biết và cũng là những món tui nhớ mỗi khi xa nhà.
Kỳ 1 - Bánh cổ truyền Việt Nam
Bánh chưng




Tết Âm Lịch đến, nhà nào cũng phải có trong nhà 1 cái bánh chưng hoặc bánh tét, như vậy mới có không khí tết. Nếu như bánh chưng thường phổ biến ở miền Bắc thì bánh tét luôn có trong nhà của người Nam. Nhưng ngày nay, người ta ko còn phân biệt điều đó nhiều nữa. Các gia đình miền Nam cũng mua bánh chưng về ăn trong 3 ngày tết. Bánh hay hay bánh tét đều ăn kèm với dưa món, củ kiệu mới "đúng điệu" và thấy hết được vị ngon của nó. Cách làm bánh như sau...
*Nguyên liệu (10 chiếc bánh chưng):
- Gạo nếp: 5kg
- Đậu xanh: 1,5kg
- Thịt lợn ba chỉ: 1kg
- Muối, hạt tiêu
*Cách làm:
- Gạo nếp vo kỹ, ngâm 8-10 giờ vào mùa đông, 4-5 giờ vào mùa hè (thay nước vài lần khi ngâm). Vớt gạo, dội nước cho sạch, để ráo, xóc muối đều.
- Đậu xanh vỡ đôi, ngâm nước 2- 4 giờ, đãi sạch vỏ, nấu chín với ít muối, giã nhỏ mịn, nắm thành từng nắm.
- Thịt thái miếng to, ướp muối tiêu.
- Đặt lá dong, cho 1 bát ăn cơm gạo (250g), bẻ 1/2 nắm đậu dàn mỏng đều lên gạo, xếp 2 miếng thịt vào giữa rồi tiếp tục cho nốt phần đậu còn lại, phủ gạo nốt lên trên cùng, bẻ gập lá gói vuông, cao thành, buộc lạt (hoặc dây) chéo chữ thập.
- Xếp bánh vào nồi có lót cuống lá dong ở đáy nồi, đổ ngập nước, đun lửa to đều. Cạn nước, đổ thêm nước sôi vào để giữ bánh luôn ngập nước. Nấu khoảng 8- 10 giờ. Vớt ra nhúng vào nước lã rồi nén chặt 8- 10 giờ cho bánh rền.
- Khi ăn bóc lá, dùng lạt cắt miếng.
- Bánh gói kín, vuông, đều, đẹp, rền. Khi bóc, bánh có màu xanh của lá dong, vị thơm ngon của đậu xanh, thịt, hạt tiêu, vị vừa ăn.
Bánh tét




*Nguyên liệu:
- 2 kg nếp tốt
- 1 kg đậu xanh cà (4 bao đậu xanh đã lấy vỏ xanh khỏi phải đãi nếu muốn)
- 1/2 kg mỡ thịt (xin ở quầy thịt, hay mua thịt heo đùi lựa miếng có mỡ dầy)
- 1 trái dừa khô (hay dùng một lon nước cốt dừa loại lớn)
- Muối, đường, lá chuối dây cột, hành lá dầu ăn
*Cách làm:
- Đậu xanh nếu mua loại có vỏ phải ngâm qua đêm, đãi vỏ sạch. Đậu không vỏ cũng ngâm qua đêm, nấu hay hấp với muối tán nhuyễn. Đầu hành lá đập dập thái nhuyễn cho lên chảo với chút dầu tao cho thơm, cho đậu vào xào cùng với chút nước cốt dừa nêm mếm cho vừa, chia đều theo lượng bánh muốn gói.
- Mỡ thịt, cho đường vào thấy mỡ trong hãy đem luộc, rồi cắt dày khoảng lóng tay, chiều dài tùy theo muốn gói bánh lớn nhỏ thế nào.
- Bọc mỡ vào giữa đậu để sẵn.
- Nếp vo sạch để ráo nước, bắc lên bếp cho nước cốt dừa vào xào nếp cho ra nhựa. Khi xào nếp có thể cho nước lá dứa vào cho thơm - Muốn làm bánh tét lá cẩm thì cho nước lá cẩm vào khi này cũng được (hay ngâm nếp với lá cẩm qua đêm thì khỏi xào nếp). Nhớ cho chút muối để bánh mặn mà.
- Lá chuối đông lạnh phải dùng nước ấm xối cho mềm - lá tươi ngày xưa thì lau rồi phơi nắng cho dịu. Lúc gói bánh tét hơi khó à nha, xếp lá dọc, lá ngang để lá không bị rách. múc gạo nếp trải đều trên lá, đặt nhân vào, gói ngang trước cho thành đòn, dựng đứng bánh lên đóng một đầu lại, buộc dây, xong đóng đầu kia.
- Xếp vào nồi ngập nước, đậy nắp nấu xôi - thay nước hai ba lần để bánh có màu xanh cho đẹp (luôn dùng nước sôi - phải có sẵn nồi nước thứ hai kế bên gọi là nước đò) tùy theo bánh nhỏ hay bánh to mà thời gian nấu từ 10 đến 14 tiếng. Nhắc nồi xuống mở nắp ngay ra chờ nguội hãy vớt bánh ra treo cho nhiểu hết nước.
Dưa món

*Nguyên liệu:
- 1/2kg đu đủ sống – 1/2kg su hào – 1/2 củ cải trắng – 1/2 củ kiệu
- 1/2 kg cà rốt – 1/2 trái thơm chín – 5 trái ớt chín lớn – 100g củ hành tím – 100g muối bọt – 1 muỗng súp phèn chua giã nhỏ - 1 lít nước mắm ngon – 500g đường cát + 20g bột ngọt
*Cách làm:
+Chuẩn bị:
- Đủ đủ gọt vỏ, bỏ hột và dây gân, xắt lát dày 2 ly dài 5 cm, ngang 2 cm.
- Su hào: gọt vỏ, xắt lát 2 ly x 3 - 4 cm.
- Cà rốt gọt vỏ, tỉa hoa, xắt dày 2 ly.
- Củ cải trắng gọt vỏ, cắt khúc 4 cm, cạnh 1 - 1,5cm.
- Kiệu lặt bỏ rễ và lá rửa sạch.
- Củ hành lột vỏ.
- Tỏi lột vỏ xắt mỏng.
- Khóm xắt miếng dày 1cm ngang 3 cm.
+Chế biến:
- Đu đủ, su hào, củ cải, cà rốt, kiệu ngâm nước muối 1 đêm, sáng ra bóp cho trong, xả sạch.
- Ngâm các thứ trên vào nước có phèn chua đã lóng trong, ngâm độ ½ giờ, xả lại nước sạch để ráo.
- Trải các thứ ra mâm nhôm, trải mỏng 1 lớp thưa (không để chồng lên nhau) phơi 1 nắng cho khô nhớ trở đều (không phơi 2 nắng, nếu không khô phải sấy khô).
- Nấu nước mắm, đường, bột ngọt để lửa nhỏ, hớt bọt kỹ để thật nguội.
- Trộn tất cả lại cho vào keo (độ 2/3 keo), chế nước mắm vào đầy keo, đậy nắp lại cho kín.
3 ngày sau, dưa thấm nước mắm và nở sẽ dùng được.
Nếu ăn liền trong tuần gài khóm vào sẽ giảm bớt độ mặn.
Hoặc khi nấu nước mắm cho thêm khoảng 4 muỗng súp nước lạnh vào.
*Lưu ý: Không được phơi quá khô.
Củ kiệu

*Nguyên liệu:
- 1 ký củ kiệu
- 200 g đường
- 1/2 lít dấm
- Muối, vôi trắng, phèn chua, tro bếp
*Chuẩn bị:
- Kiệu đem cắt bớt rễ và lá.
- Hoà 1 muỗng cà phê phèn chua + 1 lít nước ấm để cho nước nguội.
- Hoà 1 muỗng cà phê vôi trắng, ( có bán ở hàng cau, trầu)
- 1 lítre nước để vôi lắng , lấy nước trong.
- Hoà 1 tô tro bếp với nước, để tro lắng lấy nước trong
*Cách làm:
- Bỏ kiệu vào ngâm với nước tro 1 đêm cho kiệu bớt hăng xả kiệu lại với nước lạnh để ráo. Trộn kiệu với 1 muổng súp muối hột, đem phơi nắng (1 ngày nắng tốt).
- Qua ngày sau xả kiệu với nước lạnh, đem ngâm kiệu vào nước phèn chua, phơi ra nắng độ 4 giờ (tốt nhất là nắng buổi sáng).
- Sau đó vớt kiệu, xả sạch đem ngâm vào nước vôi 2 giờ nữa.
- Đổ kiệu ra rổ rồi đem phơi ngoài nắng, vừa phơi, vừa cắt rể và lá lại cho sạch sẻ, lột bớt vỏ ngoài.
- Phơi kiệu hơi héo mặt đem dội qua nước cho sạch bụi.
- Để kiệu thật khô, xóc kiệu với 50 g đường, đậy khăn vải mùng lên mặt kiệu đem phơi thêm một nắng cho kiệu thấm đường (nên xóc đường và bày kiệu ra mâm phơi tốt hơn).
- Lấy một keo thủy tinh thật sạch, xếp kiệu vào.
- Nấu giấm + số đường còn lại để nguội.
- Lọc nước giấm đường qua khăn thưa cho sạch, đem đổ vào keo kiệu.
- Nếu muốn nước kiệu trong hơn thì ngâm kiệu độ 5 ngày, nấu nước giấm đường khác thay nước cũ. Từ lúc ngâm kiệu vào nước giấm, để 10 ngày sau là dùng được
- Đem kiệu ngâm vào nước phèn chua 1 đêm.
- Sau đó xả lại nước lạnh, phơi kiệu hơi héo mặt.
- Xếp kiệu vào keo thủy tinh, nấu nước giấm đường lót đầy cào keo để độ 10 hôm sau là dùng được. Nhưng làm theo kiểu trên, thì kiệu sẽ ngon, giòn hơn.
Bánh trung thu

Tết Trung Thu là ngày mà đứa trẻ nào cũng mong đợi. Trung Thu diễn ra vào đúng tối 15 tháng 8 âm lịch hàng năm. Ngày này trẻ con xách lồng đèn giấy kiếng bóng lộn cùng nhau đi dạo khắp nơi dưới ánh trăng sáng vằng vặc, chúng được ăn bánh trung thu và hát bài "Ánh trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già ngồi ôm một mối mơ..."
Đó là tui đang ngồi mơ lại Trung Thu của những năm xa xưa. Tui thường chơi lồng đèn giấy kiếng, chơi nấu sáp đèn cầy, mùi đèn cầy chảy ra thơm phức. Một số đứa trẻ khác thì chơi lồng đèn tự làm bằng lon. Tui thề là lúc đó nếu tụi nó đồng ý đổi thì tui cũng vui lòng mà đổi cái lồng đèn giấy kiếng của tui để lấy cái lon biết xoay đó. Lồng đèn lon tuy tự làm nhưng rất thú vị, bên dưới là 1 cái lon cố định, bên trên là 1 cái lon đục lỗ có thể xoay được. Vì vậy nếu đốt đèn cầy bên trong, khi lon xoay sẽ tạo nên những hình thù in trên đất rất ngộ nghĩnh. Khi lon chạy thì phát ra tiếng kêu cắc cắc rất lớn.
Còn bây giờ, tụi nhỏ toàn chơi lồng đèn nhựa bằng pin của Trung Quốc. Như vậy thì Trung Thu đâu còn ý nghĩa gì?
Sau đây là cách làm bánh trung thu. Thường thì người ta mua bánh của Kinh Đô vừa ngon vừa hợp vệ sinh lại có hộp sang trọng đem đi tặng bạn bè được. Nhưng nếu ai muốn tự tay mình làm bánh ăn thì có thể tham khảo cách sau.


*Nguyên liệu làm nước đường: 0,5g nước chanh nguyên chất; 0,2g bột xốp; 2 lòng trắng trứng gà; 1 kg đường; 500g nước.
*Chế biến nước đường:
- Đầu tiên, cho nước và đường vào, nấu cho đến khi đường vừa sôi tới, cho lòng trắng trứng gà vào để làm sạch đường, vớt những váng dơ. Sau đó cho nước chanh nguyên chất và bột xốp vào, thắng đường cho đến khi đạt độ caramel. Điều đặc biệt, nếu có điều kiện, nước đường nên làm trước 60 ngày, đường được ủ lâu như vậy khi làm bề mặt bánh sẽ mềm dẻo, đây là bí quyết.
*Nguyên liệu vỏ bánh: 1 kg bột mì; 200 g nước đường; 100 g dầu ăn; 6 trứng gà.
*Làm vỏ bánh:
- Nhồi chung các nguyên liệu trên cho thật đều tay. Để nguội khoảng 2 tiếng, sau đó chia ra định lượng 1 đơn vị vỏ bánh là 45g.
*Nguyên liệu làm nhân bánh: 1kg đậu xanh đã đãi sạch vỏ; 900g đường cát trắng; 300g dầu ăn; 100g bột nếp chín; 50g bột mì chín; 10g vanilla.
*Làm nhân bánh:
- Đậu xanh đem đi hấp chín, sau đó xay nhuyễn.
- Để lửa riu, cho đậu xanh và đường cát trắng vào từ từ và khuấy đều, đợi cho đến khi đường tan ra, đặc quyện lại thì cho dầu ăn, bột nếp chín và bột mì vào. Khi nhân chín, đổ ra mâm, để nguội, xong cân khoảng 155g cho 1 đơn vị làm nhân bánh.
- Sau khi vỏ bánh (45g) và nhân bánh (155g) đã được làm xong, bỏ bánh vào khuôn, ép khuôn để định hình dạng bánh, bỏ ra mâm và đem đi nướng khoảng 7 phút. Lấy bánh ra, phun nước cho bề mặt bánh nguội bớt, sau đó quét trứng lên mặt bánh và nướng tiếp đến khi mặt bánh vàng. Thời gian hoàn thành để nướng bánh khoảng 20 phút.
*Bảo quản bánh: tốt nhất là để bánh ở nơi có nhiệt độ mát.

Bánh trung thu nhân đậu xanh là tui thích ăn nhứt

Bánh trung thu hình con heo

Hà hà, nếu như ăn bánh trung thu mà không có nước trà uống thì sẽ bị mắc cổ, lại không đúng điệu nữa. Nói tới trà thì nên uống trà xanh là tốt nhứt.
Bánh su sê (phu thê)


Trong lễ cưới có nhiều lễ vật, nhưng không thể thiếu bánh "Su Sê", nguyên xưa là bánh "Phu Thê".
Bánh su sê làm bằng bột đường trắng, dừa, đậu xanh và các thứ hương ngũ vị, thường nặn hình tròn, bọc bằng hai khuôn hình vuông úp lại với nhau vừa khít, khuôn làm bằng lá dừa, lá cau hoặc lá dứa, vỏ để nguyên không luộc để giữ màu xanh thắm.
Sở dĩ gọi là bánh phu thê (chồng vợ) vì đó là biểu tượng của đôi vợ chồng phận đẹp duyên ưa: vuông tròn, trong trắng mềm dẻo, ngọt ngào, thơm tho, xanh thắm, đồng thời cũng là biểu tượng của đất trời (trời tròn, đất vuông) có âm dương ngũ hành: ruột trắng, nhân vàng, hai vỏ xanh úp lại buộc bằng sợi dây hồng.


Sau đây là cách làm bánh su sê...
1. Nhân bánh:
- 500gr đậu xanh cà (loại đã làm sạch vỏ, cà bể làm hai).
- 300gr đường cát trắng.
- Ít nước hoa bưởi nếu thích.
- Vo sạch đậu, cho vào nồi, đổ nước sấp mặt đậu, nấu nhỏ lửa cho đến khi nước cạn, đậu chín như nấu cơm. Trong khi nấu thăm chừng nước nếu cần phải châm thêm nước để đậu chín xong phải ở dạng ướt mềm chứ không khô hột. Nếu dùng nồi cơm điện để nấu thì không có cách nào khác là bạn phải cho nước nhiều hơn phân luợng dùng gạo một chút rồi nấu thử.
- Đậu chín xong xới ra, để nguội bớt, dùng chày cối quết nhuyễn hoặc cho vào máy xay cắt có dao hình chữ S, tán nhuyễn đậu.
- Cho đậu đã tán mịn với đường vào một nồi vừa, trộn đều, bắt lên bếp, nhỏ lửa, dùng đũa đảo đều tay cho đến khi đậu quánh lại, sờ không dính tay là được. Lưu ý nhỏ lửa kẻo đậu cháy. Khi đậu đã được, nếu thích cho vào vài giọt nước hoa bưởi, đảo đều.
2. Bột bánh:
- 500gr bột năng, 300gr đường cát trắng, 900gr nước.
- 300gr dừa nạo sợi dài hoặc tùy thích dùng cơm dừa dày, cắt mỏng rồi cắt lại thành dạng sợi ngắn nhỏ, cách làm này cho sợi cơm dừa dòn hơn.
- Nấu chừng 1 lít nước sôi với 2 muỗng cà phê muối, trụng dừa nạo vào nước sôi rồi đổ ra ngay qua một cái rây để ráo. Cách làm này giúp cho bánh để được lâu hơn.
- Hoà tan bột với nước, lược qua rây; cho đường vào, đánh tan đường; cho dừa vào bắc lên bếp, để nhỏ lửa. khuấy đều tay cho đến khi bột nửa sống nửa chín nhưng phải ở dạng sệt chứ không đặc.
* Cách khuấy bột nửa sống nửa chín bếp VN gọi là dáo bột, khi bột dáo được thì hỗn hợp bột sệt lại ở mức độ có thể đổ chảy được chứ không phải đặc và hỗn hợp có hình thức chỗ trong chỗ đục.
** Phân lượng đừờng cho vị bánh ngọt nhẹ, tùy thích gia giảm trong khoảng 100 - 150gr.
3. Vài hình thức làm bánh phu thê mà không cần dùng đến hộp làm bằng lá dừa:
- Chuẩn bị xửng hấp nhiều nước.
- Dùng một khuôn nhựa lớn, loại có nhiều ngăn nhỏ để làm nước đá chẳng hạn hoặc nhiều khuôn nhựa, kim loại nhỏ cỡ chừng cái ly uống rượu nhỏ xíu cũng được... Quét vào lòng khuôn một lớp mỏng dầu ăn, đổ vào mỗi ngăn nhỏ một lớp bột dày chừng 1cm tùy ngăn to nhỏ. Cho vào trên lớp bột 1 -2 muỗng cà phê nhân đậu. Đổ lên trên nhân một lớp bột nữa dày 1cm, lắc nhẹ khuôn cho bột bằng mặt. Hấp cách thủy khoảng 20 phút sau khi nước sôi là bánh chín, để nguội lóc bánh ra. Bánh chín sẽ đông đặc lại và trở trong đều.
- Dùng khuôn chữ nhật bằng nhôm cỡ 30 X 20 cm., có thành cao chừng 2 hoặc 3cm (hoặc tùy ý dùng một cái khay kim loại tương tự có thành cao) láng dầu vào lòng khuôn và đổ bánh với lớp đậu giữa hai lớp bột như trên.
Sau khi bánh hấp xong và nguội hẳn, dùng dao mỏng bén, lau một lớp dầu mỏng vào luỡi dao cho dễ cắt, cắt bánh thành miếng cỡ 4 X 4cm.
- Dùng một khuôn kim loại tròn đường kính chừng 20cm, cao chừng 3cm để đổ nguyên một cái bánh lớn.
- Dùng dầu láng vào khuôn là chỉ để bánh dễ lóc ra. Nếu thích, cứ đổ thử mà không cần láng dầu, sau khi nguội thấy bánh lóc ra dễ dàng thì không cần dùng dầu để bánh khỏi bị dây mùi dầu hoặc dùng khuôn, khay loại không dính thì cũng không cần láng dầu hoặc dùng khay khuôn bằng thủy tinh.
- Dùng giấy bóng kiếng trắng gói bánh lại, dán dính và tùy ý dùng ruy-băng màu cột thắt ngang dọc để trang trí.
Nói chung, mỗi miền không chỉ có 1 món ăn là đặc sản. Một miền có nhiều vùng, mỗi vùng có 1 món riêng. Ở đây tui chỉ chọn ra 3 món tiêu biểu và cũng là 3 món tui thích để giới thiệu.
Miền Bắc: cốm làng Vòng
Mỗi độ heo may về, trong ký ức của người Hà Nội lại nhớ đến hương cốm ngầy ngậy của làng Vòng. Quả thực, bức tranh thu Hà thành sẽ thiếu hụt biết bao nếu thiếu đi một nhúm nếp xanh bọc trong lá sen và quấn sợi rơm non.
Quanh ngoại thành bây giờ rất nhiều vùng có lúa nếp và có thể làm cốm nhưng vùng đất cốm nổi tiếng nhất từ trước đến nay chính gốc tại làng Vòng.
Cốm ngon hay kém chủ yếu phụ thuộc vào giống nếp. Tại mỗi mẻ cốm ra lò còn có cốm lá me, cốm rót, cốm mộc và cốm non thông thường.
Cốm lá me là những mầm nếp mỏng dính như thể hoặc hơn lá me, bé tí bay ra trong khi đang sàng cốm sau đợt giã cuối. Loại cốm này số lượng bao giờ cũng ít và hiếm, nếu có chỉ dành cho gia chủ thưởng thức mà thôi.
Loại ngon thứ nhì và nhiều hơn là cốm rót. Đây là những hạt nếp non sau khi giã đã tự vón vào với nhau thành từng hạt ngô, hạt đỗ. Mỗi mẻ chỉ được khoảng 2/10 khối lượng cốm rót, thậm chí ít hơn, đặc biệt đến cuối mùa thì càng hiếm. Cốm còn lại là trong cối giã là cốm đầu nia loại 1, loại 2 như ta vẫn thấy bán.
Độ ngon ngọt thơm mềm và màu xanh tự nhiên của cốm phụ thuộc vào thời điểm đầu, giữa, cuối vụ. Đến cuối tháng, cốm mộc là nếp cuối mùa nên hạt to và cứng thường để rang thành cốm khô hay gia giảm, pha chế ăn tạm đợi mùa sau. Cốm mộc cũng phải có màu xanh của mạ già pha ánh vàng mới đúng nguyên chất, còn cốm đã bị hồ qua trông xanh tươi mát mắt nhưng chất lượng pha đắng chẳng còn vị cốm thật.
Cốm vòng ăn tươi thì ngon tuyệt còn mang đi xa cũng vẫn có thể đảm bảo mùi vị chất lượng trong vài ngày nếu như bọc kỹ bằng cả lá dáy và lá sen.
Riêng cốm tươi mua về ăn không hết, bạn có thể rang khô cùng cho những bữa tiệc mang hương vị riêng của cốm như: chè cốm, cốm xào, cốm đúc trứng.
Giờ đã bắt đầu một mùa nếp mới, hương vị ngầy ngậy của cốm Vòng đang thoang thoảng ngọt ngào trong gió thu. Cốm là thứ quà không phải để ăn no. Người sành ẩm thực nhâm nhi hạt cốm làng Vòng với chén nước chè Thái hay thưởng thức cốm với những quả chuối tiêu trứng cuốc.
*Mách bạn:
- Nếu muốn thưởng thức đặc sản này, bạn có thể tìm về tận làng Vòng để mua: làng Vòng, Dịch Vọng, Từ Liêm, Hà Nội.
- Nếu lười nhác, mỗi sáng sớm, thực khách có thể mua ngay trên hè phố từ các thúng cốm bán rong của các bà, các cô người làng Vòng.
- Giá: từ 50.000 - 80.000đ/ kg cốm.
Miền Trung: cơm Âm Phủ

Lý do món này được gọi là cơm Âm Phủ vì: ngày xưa vua đi vi hành, dân ko dc phép thấy mặt vua nên phải đóng cửa ở trong nhà, lại phải tắt bớt đèn. Buổi chiều tối, vua ghé nhà 1 bà góa hỏi xin cơm ăn. Bà góa ko biết vua tới, ko có chuẩn bị gì ngon, trong nhà có gì thì đem hết ra thết đãi. Bà nấu cơm, xung quanh xếp dưa leo, rau cải bình thường, ko như bây giờ còn có thịt, chả lụa hay trứng chiên. Kiểu như chúa Trịnh ăn "mầm đá", vua đi đường mệt nên ăn thứ đơn giản vậy lại thấy ngon. Sau này vua gọi bà góa vào cung nấu cho vua ăn món đó. Lại nhớ lúc ăn ngồi trong ánh đèn leo loét tù mù, nhà bà góa nằm trên 1 bãi đất bị sụp xuống, giống dưới âm phủ nên vua mới gọi món đó là cơm Âm Phủ.
*Nguyên liệu:
- 1 chén cơm gạo thơm
- 50 g chả lụa
- 50 g thịt nạc
- 2 cây nem chua nhỏ
- 1/2 trái dưa leo
- 1/2 muỗng cà phê tỏi ớt băm nhuyễn
- 1 muỗng canh nước mắm
- 1 muỗng cà phê đường
- 1 muỗng cà phê nước cốt trái chanh
- 2 tép tỏi đập dập băm nhỏ
- 1/4 muỗng cà phê tiêu
- 1/2 muỗng cà phê nước tương
- 1 muỗng cà phê dầu
*Thực hiện:
Cơm nấu khô, xới rời, để nguội. Dưa leo rửa sạch, cắt lát mỏng. Chả lụa cắt hình tam giác. Nem bóc bỏ lá, cắt khoanh tròn.Thịt rửa, lau khô, cắt lát vừa ướp tiêu, tỏi, nước tương, dầu, để ngấm gia vị 30 phút, đem nướng vàng trên lửa than. Pha nước mắm với đường, chanh, ớt, tỏi, khuấy đều.Múc cơm ra đĩa, xếp dưa leo lên trên, chả, nem, thịt nướng xếp chung quanh, cơm ăn kèm với nước mắm ớt tỏi.
Miền Nam: Cá lóc nướng trui và thịt chuột đồng

(Hehe, vì tui là dân miền Nam nên ưu tiên một chút đó mà)
Nói đến món cá lóc nướng trui thì không ở đâu qua Cà Mau, nơi có rừng tràm U Minh hạ mà phía dưới là vô số cá đồng sinh sống. Hàng năm, mỗi khi gió bấc lùa về là nông dân tại Cà Mau vào mùa làm đìa. Tập quán này của người dân miệt U Minh đã làm nên rất nhiều huyền thoại để đời. Đó không chỉ là những câu chuyện kể của bác Ba Phi mà còn là huyền thoại Ba Đìa. Cá đồng mùa làm đìa (hay còn gọi là chụp đìa) ngon nhất trong năm bởi đây là những con cá đã no đủ trong mùa nước nổi và đã tích trữ năng lượng chuẩn bị sống qua mùa khô hạn. Nhiều con cá “chất lượng” được giữ lại làm giống, số khác cân cho thương lái. Tuy nhiên, người dân miệt U Minh hạ lại thích để dành những con cá ngon nhất làm món cá lóc nướng trui.
Vừa ăn hơn cả là những con cá nặng khoảng 600- 800g. Chặt tre, trúc lụi qua mình cá rồi cắm xuống đất, dùng bổi khô như rơm, sậy, cỏ đốt cho lửa cháy bùng. Món ăn này, mới nghe qua tưởng là đơn giản nhưng quá trình chế biến cũng đòi hỏi người đầu bếp phải có nhiều kinh nghiệm. Người ta phải canh lửa sao cho rơm, cỏ vừa đủ chín cá. Dư rơm, cá sẽ bị cháy khét; thiếu lửa cá sẽ nhão, phần ngon nhất là ruột cá nếu chưa chín, sẽ rất tanh, nhất là khi để nguội. Một bí quyết mà người Cà Mau luôn nhắc nhau là trước khi nướng phải chặt bỏ đuôi cá để tránh cho cá bị ứ máu. Sau khi lửa tàn, cạo sạch lớp vảy bị cháy bên ngoài, để cá lên tấm lá chuối rồi dùng đũa rọc theo sống lưng. Tách cá ra làm đôi, gắp miếng thịt cá trắng ngần, còn đang bốc hơi nghi ngút, gói trong miếng bánh tráng kèm thịt ba rọi xắt mỏng và một chút rau rừng thì không ai có thể cưỡng lại được ý muốn cắn ngay một miếng. Thêm dĩa mắm ruột, dĩa tôm lõi luộc chín thì cá lóc nướng trui đã thành một bữa ăn thịnh soạn. Chén nước chấm ăn kèm phải là loại nước mắm thật ngon, pha thêm chanh đường, ớt, tỏi, me hay chế biến từ mắm nêm và nước cốt trái khóm. Ngoài rau sống, chuối chát, khóm, khế thái mỏng, miệt U Minh hạ còn có hàng chục loại rau rừng với đủ các vị chua, chát nhẹ làm món ăn càng thêm đặc biệt.
Cá lóc nướng trui ngon nhất là từ tháng 11 đến tháng 2 âm lịch, cá lúc này thân béo tròn, ruột đầy mỡ. Vậy nếu có dịp đến Cà Mau mùa này, bạn hãy gọi món cá lóc nướng trui, vừa ăn vừa nghe kể chuyện bác Ba Phi... Trong nội ô TP Cà Mau, bạn có thể ghé quán Thanh Trúc đường Phan Ngọc Hiển, quán Hai Lúa đường Nguyễn Ngọc Sanh và Vườn ẩm thực 70 đường Trần Văn Thời để thưởng thức món ăn dân dã này với giá dao động từ 40.000 đến 70.000 đồng/ suất, tùy theo cân nặng của cá.

Chén nước mắm me ăn kèm với cá lóc nướng trui
Và thịt chuột...

Không quá xa lạ trong ẩm thực Việt Nam và cũng xuất hiện trong ẩm thực của một số quốc gia khác trên thế giới, thịt chuột có thể sử dụng chuột đồng (chuột cơm hoặc chuột cống nhum), thậm chí cả chuột chù, để chế biến thành nhiều món ăn ngon và lạ.
Thịt chuột đồng có màu trắng và thơm ngon như thịt gà, được sử dụng như một nguyên liệu chính, kết hợp với các phụ gia để chế biến nhiều món ăn từ đơn giản đến cầu kỳ. Hàng trăm món ăn thịt chuột đặc biệt về hương vị và cách thức thực hiện có thể được liệt kê: chuột xắt miếng to khìa nước dừa và sả ớt, chuột xào sả ớt, chuột ram mặn với muối, chuột xào lá cách, chuột nấu canh chua, chuột ướp sả nướng, chuột băm nhỏ xào lá quýt, chuột xào lá mò om cuộn bánh tráng nướng, chuột xào bầu, chuột luộc rắc lá chanh thái chỉ, chuột xào với đậu phụng và hành lá ăn với bún, chuột ram vàng kho mềm chấm muối chanh hay nước mắm dầm ớt, chuột nấu đong, chuột nấu giả cầy, chuột xào chua ngọt, chuột sốt cà chua, chuột ướp tỏi ớt kẹp lá chanh nướng, tiết canh chuột, chuột ướp lá lốt phơi hay sấy khô tương tự món bò khô hay khô nai khô mực, chuột ướp hành tỏi bỏ lò, chuột xào lăn, chuột làm mắm, chuột nấu đông, chuột bao tử hấp thuốc bắc, chuột xé phay, chuột lúc lắc, gỏi chuột, chuột cà ri, chuột quay trong các lu vại, chuột nấu chua cơm mẻ, thịt chuột nấu với hà thủ ô và lá câu kỷ, chuột nhồi thịt và các gia vị vào da chuột đem hấp hoặc nướng, chuột bao tử hấp cơm, chuột bao tử nhúng dấm, chuột bao tử tẩm bột chiên v.v.
Chuột bắt về thường được sơ chế bằng cách lột da, cắt bỏ tứ chi, đuôi, hạch cổ hạch bẹn, vứt ruột chỉ lấy tim gan cật, treo lên cho ráo nước (thành ngữ ướt như chuột lột chỉ những con chuột ướt nước khi bị lột da), sau đó mới được chế biến thành các món ăn tùy thích. Tuy vậy, các món thịt chuột thơm ngon nhất khi chuột được sơ chế với phương thức thui vàng lột da để tránh bị sình vì nước có trong thịt.
Thịt chuột nếu quá nhiều, ăn không hết có thể bảo quản bằng cách ướp muối trong các lu, khạp để giữ thịt tươi ngon; bên cạnh đó có thể làm mắm thịt chuột hay sấy khô ăn dần.
Tết đến, nhà nào cũng mua nấu thật nhiều đồ ăn và trữ cả đồ nguội nữa. Đây là một số thứ phổ biến mà nhà nào cũng mua để đón tết.
Nem
Người Nam gọi chả giò là chả giò trong khi người Bắc gọi chả giò là nem. Vì vậy để phân biệt với nem-chả giò, người Bắc gọi món này là nem chua trong khi người Nam chỉ gọi đơn giản là nem.
------------------
Giò thủ
Món này người Bắc thường ăn hơn. Nhưng một lần được một cô bạn người Bắc cho ăn giò thủ do nhà cô ấy làm, phải nói là rất ngon. Vì vậy, tui tuy là người Nam nhưng rất thích ăn.
------------------
Tôm khô
------------------
Chà bông
Người Bắc gọi là ruốc
------------------
Dưa mắm
]
------------------
Chả lụa
------------------
Và cuối cùng là mắm cà pháo
Món này không phải tới tết mới ăn, bình thường tui cũng ăn. Nhưng tui cũng liệt kê ra luôn vì món này là món khoái khẩu của tui.
Và sau đây là cách làm món cua farci (cua dồn thịt)...
*Nguyên liệu:
200 gr thịt nạc
100 gr xá xíu
100 gr dăm bông
200 gr nạc cua
200 gr tôm thẻ
Trên hình là món cua farci do tui tự làm
2 trứng gà, 1 ổ bánh mì khô
50 gr mỡ
Cà rốt, củ cải trắng, gừng
*Cách làm:
- Bơ, thịt nạc băm nhuyễn.
- Xá xíu và dăm bông xắt hột lựu.
- Tôm lột vỏ, quyết nhuyễn.
- Mỡ xắt nhỏ, ướp chút đường cho mỡ được trong.
- Gừng xắt sợi.
- Cà rốt, củ cải tỉa hoa ngâm dấm đường.
- Lòng đỏ trứng đánh tan.
- Bánh mì đem giã nhỏ.
- Trộn tất cả thịt, xá xíu, dăm bông, thịt cua, tôm, mỡ, lòng đỏ trứng gà, bột năng, rượu Mai Quế Lộ, gừng, tiêu, bột ngọt, muối, tỏi, củ hành băm.
- Mai cua rửa sạch, tráng sơ qua lớp bột năng rồi nhét thịt vào cho thật chặt. Thoa bơ lên trên mặt và rắc bánh mì vụn lên trên. Để vào lò, nướng vàng.
- Xếp cua ra đĩa, trình bày với cà chua, ớt và cải tỉa hoa.
Cua rang me
Ghẹ, một đặc sản miền biển. Tuy nhiên nếu ai ăn không quen sẽ dễ bị Tào Tháo rượt
Mực tươi
Mực 1 nắng, đặc sản rất nổi tiếng của Phan Thiết và Nha Trang
Tôm luộc
Tôm hấp nước dừa
Một tô soup sứa
Món sứa trộnKỳ 5: Một bữa cơm điển hình của người Việt
Người Việt có thói quen cả nhà cùng nhau dùng bữa cơm chiều. Ông bà, cha mẹ, con cái, anh chị em quây quần bên nhau cùng ăn những món ăn ưa thích do bà và mẹ nấu, kể chuyện trường lớp, công việc cho nhau nghe rồi cùng cười, cùng bà luận. Thói quen đó giúp cho tình cảm gia đình thêm đầm ấm. Xã hội Việt Nam ngày nay ít còn gia đình nào giữ được truyền thống đó. Người lớn bận rộn hơn, trẻ con học thêm nhiều hơn khiến cho người ta không còn cơ hội bên nhau ăn bữa cơm chung. Nếu nhà nào vẫn còn duy trì được bữa cơm như thế thì thật là đáng quý.
Nhìn chung, một bữa cơm của người Việt thường có một món canh, một món cá, một món thịt (có khi người ta ăn tép), một món rau và sau đó là tráng miệng. Tui là người miền Nam nên tui chỉ có thể giới thiệu những món thường dùng của người miền Nam. Những món của người miền Trung hay người miền Bắc thì xin nhường lại cho bạn.
Món canh thì có canh chua cá lóc.
*Nguyên liệu:
-0,5 kg cá lóc làm sạch, cắt miếng vừa ăn.
-Giá 100gr, bạc hà 100gr, đậu bắp 200gr, cà chua hai trái, thơm 1/2 trái
-Bông so đũa, bông thiên lý, bông bí, rau om, ngò gai rửa sạch. Me chín 200gr, ớt sừng 1 trái, muối, đường, bột ngọt…
*Cách làm:
-Bạc hà tước vỏ, cắt xéo, đậu bắp cắt xéo, trái thơm bỏ mắt cắt lát mỏng, cà chua cắt múi cau. Ớt sừng cắt lát, rau om, ngò gai cắt nhỏ. Me chín cho vào nước nóng dằm rồi lọc lấy nước.
-Đun sôi một lít nước, thả cá vào, chờ nước sôi hớt bọt, cho nước me vào. Cá chín nêm muối đường bột ngọt vừa ăn. Thả đậu bắp, cà chua, thơm, bạc hà, giá vào.
-Múc canh ra tô lớn, thêm ngò gai, rau om, ớt và một muỗng canh tỏi phi dầu.
Ngoài ra dân miền Tây còn có món Canh chua lươn rất ngon và bổ dưỡng.

*Nguyên liệu:
- 1 kg lươn
- 1 bắp chuối hột
- Đậu bắp, cà chua , giá , bạc hà
- Nước dùng
- Rau om, ngò gai, sả
*Cách làm:
- Lươn làm sạch nhớt (có thể sử dụng tro bếp, chanh hay dấm đều được) khứa nhẹ từng khúc nhưng đừng để đứt (nếu thích, có thể xắt khúc luôn).
- Bắp chuối xắt từng khúc. Nhớ bỏ những phần già phía ngoài. Nhanh tay ngâm bắp vào nước có pha chanh để bắp khỏi thâm đen.
- Bạc hà tước chỉ, xắt xéo. Đậu bắp xắt xéo mỏng độ 2-3 cm, cà chua xắt núm cau (trước khi bỏ vào nồi hãy xắt).
- Nấu nước dùng với me và vớt bỏ hột (nếu có me trái xanh càng ngon).
- Nước sôi, bỏ lươn vào và đơị nước sôi trở lại thì bỏ bắp chuối, đậu bắp và bạc hà vào. Nêm muối, đường, bột ngọt sao cho nồi canh chua chua, ngọt ngọt. Bỏ giá và cà chua vô.
- Phi tỏi và sả bằm cho thơm vàng, trút vào nồi canh chua. Rắc thêm rau om, ngò gai và ớt hiểm. Ăn kèm với nước mắm me.
Món thịt thì có thịt kho hột vịt (hay còn gọi là thịt kho nước dừa).

*Nguyên liệu:
- 0,5 kg thịt đùi cắt miếng vuông vừa ăn,
- Bốn quả trứng vịt luộc chín, bóc vỏ.
- Đầu hành lá 100gr, ớt sừng 2 trái, dừa xiêm 1 trái (lấy nước), dầu ăn, muối, đường, nước mắm, bột ngọt…
*Cách làm:
-Đầu hành lá, ớt sùng rửa sạch, đập dập, cắt đôi.
-Cho vào nồi một ít dầu ăn, hai muỗng đường vào thắng cho đường chuyển mầu vàng cánh gián, cho tiếp đầu hành vào phi thơm, cho thịt vào xào săn, nêm đường, nước mắm, bột ngọt.
-Cho nước dừa xiêm vào ngập thịt hơn một lóng tay.
-Nếu nước dừa ít có thể thêm nước dùng hoặc nước lã vào, nấu sôi, vớt bọt. Kế tiếp cho trứng vịt vào vặn nhỏ lửa, kho như vậy đến khi thịt mềm, nước còn xâm xấp, nêm lại cho vừa ăn, tắt bếp.
-Múc thịt ra tô, trứng vịt cắt đôi hoặc cắt làm tư để lên trên.
Món cá thì có cá kho tộ

*Nguyên liệu: 4 khứa cá lóc hay cá bông lau (khoảng 300gr); Hành lá, ớt; Nước mắm ngon, muối, tiêu, đường, xì dầu, dầu ăn.
*Cách làm:
- Cá bông lau mua về làm sạch, để ráo. Phần đầu và đuôi cá dùng nấu canh. Phần thân cá cắt làm 4 khứa để kho. Ướp cá với một chút muối, tiêu, đường và nước mắm ngon.
- Thắng nước màu: đun sôi cạn nước mắm, xì dầu, đường trong nồi.
- Cho cá đã ướp gia vị vào, đun lớn lửa khoảng hai phút. Cho dầu ăn, giảm nhỏ lửa, thỉnh thoảng trở đều cho cá thấm gia vị. Chú ý trở thật nhẹ để cá không bị nát.
- Kho khoảng 15 phút, nước kho bắt đầu cạn bớt, vận lửa lớn cho nước cô lại. Cho hành lá và rắc tiêu, vài lá ớt.
Rau thì không chỉ người miền Nam mà tất cả người Việt đều thích ăn rau muống.
Đây là một dĩa rau muống xào tỏi.

*Nguyên liệu: (5 người)
- 4 bó rau muống
- 2 tép tỏi
- Đường, muối, bột ngọt
- Dầu ăn
*Cách làm:
- Rau muống lặt sạch, cắt thành từng miếng vừa ăn, và sau đó đem rữa sạch. Cho chúng ra rỗ để ráo.
- Bắt bếp lên chảo, để nóng, sau đó cho dầu vào. Khi dầu đã nóng, cho tỏi vào, và phi tỏi cho vàng, hoặc có mùi thơm vẫn được.
- Khi bước hai đã xong, cho rau muống vào nồi, cùng với đường, muối, bột ngọt, trộn đều cho đến khi rau chín và tắt bếp (nếu muốn rau mềm, nên luộc sơ trước).
***Đặc biệt, người Việt ăn cơm bao giờ cũng có 1 chén nước chấm để chính giữa mâm. Đó thường là 1 chén nước mắm sống (nước mắm nguyên chất) có dằm chút ớt, cũng có khi là chén nước mắm pha với đường-chanh-tỏi-ớt. Về các loại nước chấm tui sẽ bàn sau. Nhưng dù có ăn gì thì người Việt cũng không thể thiếu chén nước mắm. Trong hình là chén nước mắm nguyên chất ăn với canh chua là "tuyệt cú mèo".

Sau khi dùng cơm xong, người Việt thường ăn trái cây tráng miệng, ít khi hoặc không bao giờ ăn đồ ngọt như bánh Gâteau giống phương Tây. Về các loại trái cây của Việt Nam thì tui sẽ giới thiệu trong kỳ sau.
Ăn cơm xong thì người Việt sẽ ăn tráng miệng. Thường người Việt ăn trái cây, ít ăn đồ ngọt như các nước Âu Mỹ. Đây là những loại trái cây ngon phổ biến ở Việt Nam.
Quýt - Mandarin
Trái thơm (trái khóm) - Pineapple
Dưa hấu - Water melon
Chuối - Banana
Bưởi xanh - Pomelo
Bưởi đỏ - Grapefruit
Sầu riêng - Durian
Măng cụt - Mangosteen
Mít - Jackfruit
Trái vải - Lychee
Xoài - Mango
Đu đủ - Papaya
Sa pô chê - Sapodilla
Nhãn - Longan
Chôm chôm - Rambutan
Mận - Plum
Vú sữa - Starapple
Táo xanh - Apple
Trái hồng - Persimmon
Mãng cầu dai (na) - Custard apple
Mãng cầu xiêm (mãng cầu gai) - Soursop
giới thiệu các món chè Việt Nam
Chè chuối chưng
1. Chọn chuối trái nhỏ để nấu nguyên trái theo cách nấu truyền thống; dùng chuối chín mềm nhưng không quá chín rục. Chuẩn bị nồi nước lọc nguội vừa đủ ngâm chuối, thêm chút muối vào nồi nước với phân lượng khoảng 1 muỗng cà phê / 1 lít nước. muỗng cà phê vun muối bọt; lột vỏ chuối, tước vỏ chỉ còn dính trên thân trái chuối, để nguyên trái, thả vào ngâm khoảng 5 - 7 phút; trước khi nấu vớt ra để ráo.
2. Bột khoai. Chọn bột khoai dạng sợi; bột báng.mỗi thứ 100gr ngâm riêng từng thứ trong nước lạnh cho mềm. Khi bột khoai mềm, cắt thành khúc ngắn.
3. 1 kg dừa nạo, cho vào 2 chén nước ấm, nhồi vắt lấy 2 chén nước cốt. Cho thêm khoảng 2 lít nước ấm vào dừa, vắt lấy nước dảo.
4. Chuẩn bị ít đậu phụng rang vàng, đải vỏ, giả dập; 1 bó lá dứa khoảng 5 lá rửa sạch, vài ống vani tùy thích sử dụng hay không, 100 gram đường cát trắng hoặc gia giảm tùy khẩu vị.
5. Phụ gia củ mì (sắn) và khoai lang luộc: Củ mì (sắn) chọn loại dẻo, càng ít bột càng ngon, lột vỏ, cắt khúc, ngâm nước lạnh qua 12 giờ, mỗi 6 giờ nên thay nước mới. Luộc chín củ mì (sắn), để nguội, cắt miếng vuông nhỏ. Khoai lang chọn khoai lang bí, ruột có màu vàng đỏ, chắc nạc, ít bột. Theo bếp cổ truyền VN, gọt vỏ khoai, cắt lát dày chừng 2cm. Pha vôi ăn trầu với nước theo tỷ lệ 15gr / 1 lít nước. Ngâm khoai trong nước vôi khoảng 2 giờ, vớt ra xả sạch với nước lạnh rồi mới nấu cho khoai vừa chín, khoai chín ở dạng cứng nhờ vôi. Nếu không có sẵn vôi hoặc không thích dùng thì cứ cắt mỏng khoai rồi nấu và canh kỹ cho khoai vừa chín tới, đừng để khoai chín mềm. Để nguội, lột vỏ, cắt miếng vuông nhỏ chừng nửa ngón tay cái.
6. Nấu nước dừa dảo + lá dứa + 100 gram đường + nửa muỗng cà phê muối nấu cho tan đường, hạ bớt lửa cho bột khoai vào, khi bột khoai nở trong cho tiếp bột báng vào, khi bột báng nở lớn và trong suốt, vớt bỏ lá dứa, cho chuối + khoai lang, sắn luộc vào với phân lượng tùy ý nhưng thường là một trái chuối chỉ cần cho vào 3 đến 5 miếng cả khoai lẫn sắn, nấu nhỏ lửa trong khoảng 10 - 15 phút cho chuối thấm. Nếu khoai không có ngâm vôi thì chỉ nấu trong nồi chuối với thời gian ngắn. Châm nước cốt dừa vào sau cùng, để sôi lại là được, tắt bếp, cho vào 1 - 2 ống (2gr) vani nếu thích, khuấy đều.
7. Múc chuối chưng ra chén, rắc thêm đậu phụng rang, tùy thích ăn nóng hoặc cho vào tủ lạnh trước khi ăn.
8. Lưu ý khi nấu, canh lửa vừa để chuối thấm đường nhưng bột khoai, bột báng vẫn dai chứ không nát. Nước dừa sánh lại nhờ bột khoai, bột năng. Chuối chưng thường dùng ít đường vì dùng chuối chín ngọt.
Sương sa hột lựu

*Nguyên liệu:
- 1/2 gói bột rau câu (giả làm sương sa)
- 1/4 gói đậu xanh không vỏ
- 1 gói bột năng
- Củ năng (có thể mua loại trong hộp)
- Đường cát
- 5 hộp nước cốt dừa
- 1 ống vani
*Cách làm:
- Nấu bột rau câu (còn gọi là thạch) với 3 chén nước (muốn cứng dùng 2 chén) khuấy cho tan đều, cho 1/2 chén đường vào, đổ vào tô cho đặc cứng lại, thái sợi cho đẹp (có thể dùng dụng cụ bào fó mát).
- Cho 4 chén nước vào chỗ đường còn lại thắng trên bếp cho tan, bắc xuống cho vani vào.
- Đậu xanh ngâm cho ra hết màu vàng, xả nước cho sạch, cho lên bếp nấu sôi, tán nhuyễn. (Nếu dùng đậu đỏ, trắng, đen mua loại trong hộp, hay trong hũ cho nhanh, không có thì phải hầm đậu. Trước khi hầm nhớ ngâm trước một đêm).
- Hột lựu là phần đặc biệt: dùng củ năng tươi ngon hơn mà mất công bào vỏ lắm. Củ năng cắt nhỏ y như hột lựu, cho màu đỏ vào trộn đều. Lấy 1/2 gói bột năng trộn vào củ năng, xóc đều, cho bột bao hết củ năng.
- Bắc nồi nước sôi thật sôi, dùng rây loại bỏ hết bột thừa, sau đó chia củ năng thành 4 phần, cho vào nước đang sôi. Củ năng nổi lên mặt nước là chín, vớt ra nhúng ngay vào nước lạnh cho rời từng hột cho khéo.
- Sẵn sàng múc vào ly: đậu, sương sa, hột lựu, nước dừa (sữa), nước đường, đá bào.
(Có thể khuấy tất cả đường, hột lựu, sương sa. Để riêng nước dừa và đậu, khi ăn mới cho vào).
Chè trôi nước

*Nguyên liệu :
- 4 chén bột nếp
- 1 chén bột gạo
- 1 gói đậu xanh cà
- 1 bao đường thẻ
- 1 củ gừng
- Muối, nước cốt dừa, bột mì, mè
*Cách làm:
- Hai thứ bột pha chung lại với nhau rồi để 1/2 chén nước vào bốp cho bột tan, kế đến cho nước nóng vào nhồi cho đến khi nào thấy bột dẽo mềm là được.
- Ðậu xanh ngâm 1 đêm hấp chín tán nhuyễn để khoãng 1 1/2 muổng càfê muối vào xào đều tay với một ít nước cốt dừa + 1 1/2 muổng càfê đường + 1 muổng càfê tiêu cho dẽo rồi để nguội, vo viên tròn bằng ngón chân cái để riêng.
- Bột cán tròn lớn hơn đậu một chút rồi cho đậu vào giữa bột vê tròn.
- Nấu nồi nước sôi thả bột thả bột có nhân đậu vào luộc chín (Notes: Nước phải thật sôi mới thả bột vào), bột nổi lên là chín, với ra bỏ vào thau nước lạnh.
- Ðường tán để 5 chén vào nấu cho tan đường, rồi bỏ bột đã luộc chín vào nồi nước đường, gừng đập dập bỏ vào cho thơm.
- Nước cốt dừa nấu sôi nêm tí muối + tí đường và (bột mì quậy với nước) đổ vào dừa cho sền sệt là được.
- Khi ăn múc chè ra chén cho tí nước dừa và rắc mè rang vàng vào.
Chè hạt sen

*Nguyên liệu: 2 xâu hạt sen khô, nếu có hạt tươi thì càng ngon, 200 g táo đỏ (loại có hột), 300 g đường phèn, 2 ống vani.
*Cách làm:
- Hạt sen rửa sạch, ngâm nước 20 phút, cho vào xoong đổ nước ngập, đun sôi rồi hạ nhỏ lửa cho đến khi chín mềm.
- Táo đỏ rửa sạch bằng nước ấm, cho vào xoong luộc 5 phút, vớt ra rổ, để ráo nước.
- Nấu tan đường phèn với nửa lít nước, lọc qua xoong khác, cho hạt sen, táo đỏ vào nấu trên lửa nhỏ độ 10 phút, nhấc xoong xuống, cho vani vào khuấy đều. Múc chè ra bát, cho đá đập nhỏ vào ăn cùng (hoặc ăn khi nóng tùy khẩu vị).
Chè mè đen

1. Chọn mè: phải là mè còn mới. Không dùng mè cũ đã để lâu, có thể bị mục, mốc, khô dầu. Mè mới luôn nặng hơn mè cũ, cùng một trọng lượng, mè mới sẽ thấy ít số lượng hơn hơn mè cũ. Mè phải có sắc đen bóng, đầy đặn, vị thơm nhẹ, không lẫn tạp chất như bông cỏ, cát sạn. Khi thả vào nước mè phải chìm chứ không nổi. Nếu thấy mè nổi lên mặt nước nhiều là mè vỏ, đã bị khô gần hết dầu.
2. Dụng cụ xay mè: bếp VN hay dùng loại cối xay bằng đá để xay khô mè đã vo đải sạch và phơi khô lại. Để làm trong gia đình, chỉ cần sử dụng một cái cối xay tiêu hay xay cà phê lọai nhỏ đủ xay vài trăm gram mè mỗi lần. Máy vận hành bằng tay hay bằng máy, dĩ nhiên đó phải là một cái máy mới, chưa qua sử dụng xay tiêu hay cà phê và bạn sẽ chỉ sử dụng để xay mè. Dùng chày cối để giã thì bột mè không mịn đều, tốn công.
3. Chè mè đen: phân lượng cho độ sánh chè vừa phải vì còn tùy thuộc vào chất lượng mè đang có.
- 200gr mè đen thả trong thau nước, vớt bỏ hột hay tạp chất nổi lên mặt nước, vo sạch mè, trải ra trên một mặt phẳng có thể thoát nước như rá, rổ lổ nhỏ, phơi khô ráo hoàn toàn. Xay mè thành bột mịn, sau khi xay nên rây bột mè qua một rây kim loại lổ nhỏ để lược bỏ tạp chất. Việc vo và phơi mè nên làm trước vài ngày, trữ sẵn.
- 300gr dừa nạo. Cho vào chừng một chén nước ấm vắt lấy nước cốt, hoà tan với 1 muỗng súp bột năng hoặc bột bắp, để riêng. Cho thêm nước ấm vắt lấy khoảng 1, 5 lít nước dảo.
- 70gr đường phèn tán nhỏ hoặc 300gr đường cát trắng mịn. Một bó lá dứa chừng 5 lá nếu thích.
- Bắc nước dừa dảo với bột mè xay lên bếp + lá dứa lên bếp, khi thấy nước bắt đầu dậy hơi, chớm sôi dùng đũa dài khuấy đều tay, liên tục kẻo bột mè đóng cục, sít nồi, nhỏ lửa, để sôi nhẹ khoảng 7 - 10 phút, ngửi thấy dậy mùi thơm lá dứa, vớt bỏ lá dứa. Cho đường vào và vẫn khuấy đều tay cho tan đường. Khi bột mè chín hoàn toàn nếm thử không còn thấy lợn cợn bột và nước chè sánh lại, chỉ cần cho thêm ít nước cốt dừa có bột vào từ từ, vừa châm vừa khuấy đều cho chè chỉ hơi sệt thêm chút nữa là được.
- Không để nước dừa dảo sôi rồi mới cho bột mè vào. Chè mè đen nấu nhanh nhưng không bao giờ để sôi sùng sục mà chỉ để sôi váng hơi. Đừng nấu số lượng nhiều cùng một lúc. Vì phải nấu lâu sẽ bị dậy mùi dầu dừa.
- Lá dứa chỉ dùng để tạo mùi thơm, nhất khi thấy mè không còn thơm, tức là mè cũ, dùng hay không tùy ý. Nếu có mè mới, có mùi thơm... thì có thể không dùng lá dứa.
- Chè loãng hay đặc mè là tùy lượng nước dảo dừa sử dụng ít nhiều với một lượng mè nhất định. Nếu dùng nước bột năng thì chè có sắc trong. Chè nấu xong phải có sắc đen bóng mới là mè ngon,nếu chè lợn cợn trắng là do bị mè vỏ quá nhiều hoặc dùng lượng nước dừa dảo nhiều hơn mè quá nhiều.
- Lượng đường sử dụng cho vị chè ngọt rất nhẹ, tùy thích gia giảm. Nếu muốn vị chè ngọt tự nhiên, ít béo thì dùng nước dừa tươi ngọt để nấu hoặc dùng nước lạnh để nấu với đường phèn.
- Chè mè đen thường ăn nóng với vài phụ gia sau (tùy chọn - nếu không dùng lá dứa): Gừng non gọt vỏ cắt sợi thật nhỏ, vỏ quýt khô ngâm nước nóng cho mềm, cắt sợi, cho nước lẫn sợi vỏ quýt vào chè; phần vỏ xanh có tinh dầu trái cam sành tươi dùng dao mỏng hớt từng miếng nhỏ cỡ vảy móng tay, mỗi chén chè nóng chỉ cho vào 1 -2 hai miếng.
Chè đậu trắng

1. 0,5kg đậu trắng khô, vo sạch, ngâm nước qua mười hai giờ. Đây là thời gian ngâm loại đậu khô VN, có thể đã để trên 3 tháng, tùy loại đậu bạn đang có mà ước định thời gian ngâm nước lạnh có thể mau hoặc lâu hơn 1 - 2 giờ. Khi ngâm đổ nước cao hơn mặt đậu nhiều vì đậu sẽ ngấm nước làm nước cạn xuống, vớt bỏ những hạt đậu nổi lên mặt nước. Sau đó đổ bỏ nước ngâm, châm ngập nước mới, bắc lên bếp nấu sôi nhỏ lửa, lưu ý nếu thấy cạn nước thì châm thêm nước sôi, cho đến khi thấy hạt đậu vừa mềm - lấy thử một hột, thổi nguội, cạy mày đậu giữa hột ra và lột được phần vỏ cứng dễ dàng là hột đậu đã được. Tắt bếp, đổ qua rổ rá cho nguội bớt, xả lại nước lạnh, để cho thật ráo, dùng tay cạy mày và lột bỏ vỏ từng hạt đậu, sau đó xả sạch lại nước lạnh vài lần để ráo.
Nếu dùng nồi áp suất để nấu đậu thì tùy thương hiệu nồi để tuân theo hướng dẫn sử dụng. Cho đậu đã ngâm và nước vào nồi với phân lượng nhất định, nấu với thời gian chỉ định đã nấu thử qua để biết chính xác thời gian đậu mềm.
2. Cho vào đậu 600 - 700gr đường cát trắng, gia giảm tùy thích muốn ngọt ít nhiều, xốc trộn cho đều, để qua 1 giờ.
3. 0,5kg dừa nạo, cho vào 1/2 lít nước ấm vắt lấy nước cốt; cho vào lại khoảng 2 lít lít nước ấm nữa vắt lấy nước dảo. Lượng nước dảo này vừa dùng để nấu nếp và không nhất thiết phải dùng hết. Ở nước ngoài tùy ý dùng nước cốt dừa đóng lon, pha loãng ra để làm nước dảo.
4. Nấu nếp: Vo sạch 250gr nếp, châm nước dừa dảo vào cao hơn mặt nếp chừng 3 - 4cm, nhỏ lửa, nấu nếp thành dạng cháo đặc, thăm chừng khi nấu để châm thêm nước dừa dảo nếu thấy thiếu, khi nếp nở đều, vẫn để nhỏ lửa, trút phần đậu đường vào nếp, đảo nhẹ tay, để sôi váng hơi trong khoảng 5 phút nữa, thấy đường tan hoàn toàn là được. Sau khi nấu xong, hỗn hợp đậu, nếp vừa sệt là đã canh nước đúng.
5. Nấu nước cốt dừa: Bắc nước cốt dừa lên bếp + ½ muỗng cà phê muối + 1 muỗng cà phê bột năng + 2 ống va-ni nếu thích + vài cọng lá dứa rửa sạch vo dập, nấu nước cốt dừa sôi lên, khuấy đều tay, để vừa sệt lại là được.
6. Múc chè ra chén, tùy thích ăn nóng hay để nguội, chan nước cốt dừa lên mặt chè.
Chè đậu xanh

*Nguyên liệu:
- 500g đậu xanh còn nguyên hột
- 500g đường cát trắng
- 25g phổ tai
- 500g dừa nạo
- Vani
*Cách làm:
- Đậu xanh: lựa đậu hột lớn, rửa sạch ngâm nước độ 30 phú.
- Phổ tai: ngâm nước mềm rửa sạch, xắt sợi.
- Dừa nạo: vắt 1 chén nước cốt, vắt thêm độ 2 lít nước dảọ.
- Cách 1: bắc xoong đậu lên bếp cho muối nước lã nấu cho đậu mềm, cho đường vào nấu thêm độ 10 phút cho đậu thấm đường, cho phổ tai vào + vani nhắc xuống.
- Có thể thực hiện bằng cách khác: cho nước dảo dừa vào đậu bắc lên bếp nấu, khi nào đậu thật mềm cho đường vào nấu cho đến khi đường thấm vào đậu cho phổ tai + vani + nước cốt dừa nhắc xuống.
CÁc món nhậu , trong nhà hàng và ngay cả tại các quán vỉa hè .
Chem chép nướng
Hột vịt lộn xào me
Khô mực nướng
Nghêu luộc
Nghêu xào me
Ốc bươu xào tỏi
Ốc hương luộc
Ốc len xào dừa
Ốc mỡ xào me
Ốc móng tay xào rau muống
Ốc nhảy
Sò điệp nướng phô mai
Sò dương
Sò huyết
Tui xin phép giới thiệu 3 món đại diện cho 3 miền và cũng là 3 món tui mê nhứt (nói là nghiện thì cũng hổng sai đâu, ực ực)...
Trước hết là món của miền Nam:
HỦ TIẾU
Hủ tiếu vốn là món ăn của người Trung Quốc di cư đem vào vùng đồng bằng sông Cửu Long. Người Tiều phát âm là "cổ chéo", có nghĩa là những sợi làm bằng bột nhỏ và dài. "Cổ chéo" đã Việt hóa trở thành hủ tiếu, một món ăn mà ngày nay, có người miêu tả là "đậm đà tính dân tộc", kể ra cũng rất đúng.
Từ thuở mang gươm đi mở cõi; Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long (thơ Huỳnh Văn Nghệ). Trong cái nhớ ấy, ngoài những nỗi niềm thiêng liêng với đất Tổ, chắc chắn có nỗi nhớ phở - "miếng ăn kỳ diệu của tất cả những người Việt Nam chân chính" (Nguyễn Tuân). Lưu dân Việt Nam vào châu thổ sông Cửu Long từ thế kỷ 16 mà mãi đến cuối thể kỷ 17 (1698 Chúa Nguyễn mới phái Nguyễn Hữu Cảnh vào xây dựng Sài Gòn. Bởi vậy, người Việt Nam vùng đất mới gặp món "cổ chéo" như người đang "buồn ngủ gặp chiếu manh", bèn tiếp thụ ngay cái món ăn tương tự như phở mà không cần thịt bò, chế biến với thịt heo, tôm, cá và bột gạo đang có sẵn.
Hủ tiếu Nam Vang, thật ra không phải là sản phẩm của người Khmer mà là của người Tàu ở trên đó chế biến. Món ngon ấy đã từ Nam Vang truyền xuống Sài Gòn khá lâu rồi. Có điều đáng nói là, ngày nay nếu có dịp đi Nam Vang, ăn món hủ tiếu Nam Vang chính nơi gốc gác của nó, bạn sẽ ngạc nhiên thấy rằng nó không được ngon miệng bằng món hủ tiếu Nam Vang di tản xuống Sài Gòn (nước dùng không thơm ngọt bằng, thịt không mềm vừa miệng bằng, sợi hủ tiếu không dẻo thơm bằng...). Người Sài Gòn (cả người Hoa ở Sài Gòn) đã cải tiến món hủ tiếu nói chung và món hủ tiếu Nam Vang theo khẩu vị của mình suốt nhiều chục năm qua, làm cho nó trở thành người anh em họ rất xa với món hủ tiếu đang ở tại Nam Vang.
Gần 20 quán hủ tiếu Nam Vang phân bố khắp các quận tại Sài Gòn có chất lượng suýt soát nhau, trong đó các cửa hàng ở Võ Văn Tần, Nguyễn Trãi, An Dương Vương, được biết đến lâu hơn. Ðặc điểm của những cửa hàng thu hút khách ăn là có kỹ thuật nấu nước dùng đạt chất lượng cao: nấu bằng xương ống của heo, một ít mực khô, tôm khô, đun lửa cháy liu riu, liên tục vớt bọt để cho một thứ nước trong vắt ngọt lịm (nhiều quán ít khách, nước dùng là nước luộc thịt, cho quá nhiều bột ngọt và đường). Món thịt băm phải thật nhuyễn và chế biến sao cho không dai, không nát, không khô xơ, không quá béo. Trải lên sợi bánh là thịt nạc, gan, tim, huyết, tôm tươi luộc vừa chín có vị ngọt tự nhiên. Bánh hủ tiếu làm bằng thứ bột gạo nàng hương, đốc nhen xay thật nhuyễn, sợi nhỏ sấy khô nhưng chỉ cần trụng nhanh qua nước sôi là đã mềm. Tươm vào một ít mỡ hành phi, cọng sợi hủ tiếu sẽ trong veo, bóng loáng, cái dẻo, cái thơm đã có thể cảm nhận được bằng mắt. Hủ tiếu Nam Vang có mùi vị độc đáo là do nêm vào một vài muỗng tỏi giã nhuyễn ngâm giấm thanh. Tỏi ngâm một vài ngày thì ăn, sớm quá bị cay nồng, muộn quá mất hương vị và mềm nhũn.
Tô hủ tiếu múc ra, chìm dưới làn nước trong và sánh là sợi bánh phau phau, những lát thịt, tim, gan màu sẫm, mảnh tôm hồng tươi, hành, rau thơm xanh ngăn ngắt. Cho vào một muỗng tỏi ngâm, vắt vài giọt chanh, rải vài lát ớt, ngắt lá hẹ và giá sống... Một tĩnh vật đầy mầu sắc, nhưng nó đang cựa mình bốc lên một mùi thơm quyến rũ. Nếu lấy tri thức dinh dưỡng hiện đại mà đánh giá thì tô hủ tiếu Nam Vang là một sự tổng hợp các chất khá phong phú.
Hủ tiếu Mỹ Tho có lẽ là món còn giữ được gần với món hủ tiếu khi mới ra đời. Tại Mỹ Tho, người ta dùng gạo Gò Cát thơm dẻo nổi tiếng để làm sợi bánh. Nước dùng nấu bằng xương ống, mực khô nướng thơm, khi ăn có trụng mốt ít cải xanh xắt nhỏ. Một số nơi thêm miếng sườn heo, hoặc vài quả trứng cút vào tô hủ tiếu.
Hủ tiếu Mỹ Tho chiếm lĩnh và trụ vững ở các quán ăn ở thị trấn các vùng quê. Tuy nhiên, mỗi địa phương người ta có sự gia giảm các loại nguyên liệu cho hợp với khẩu vị. Ở Vĩnh Long cách nêm gia vị lạ lùng là khi tô hủ tiếu múc ra người ta nêm vào muỗng đường cát.
Hủ tiếu là món ăn cùng tuổi với vùng đất Nam Bộ. Nó chưa vươn ra khỏi địa bàn đã sinh ra nhưng đã giành được khẩu vị của người dân của một thành phố đông dân và sầm uất vào bậc nhất, góp phần làm phong phú thêm bản thực đơn Việt Nam vốn đã rất phong phú.
Đây là cách nấu hủ tiếu Nam Vang.
*Nguyên liệu:
- 1,5kg xương gà hoặc heo, bò để nấu nước lèo
- 1kg hủ tiếu dai (bột lọc) tươi hoặc khô
- 1/2kg tôm bạc
- 1/2kg thịt heo nạc lưng
- 1/2 lb gan heo (tuỳ ý)
- 1/2 chén tôm khô
- 1 con khô mực
- Dầu ăn, nước mắm
- Tỏi vài tép
- Bột xá xíu
- Chanh, ớt, hành lá, ngò, cần ta (tuỳ ý)
- Muối, tiêu, đường, bột ngọt (tuỳ ý)
- 2 củ hành tây
- 10 củ hành đỏ (tím) nhỏ
- Giá, hẹ
*Cách làm:
- Xương rửa nước muối cho sạch. Bắc lên bếp luộc cho sôi bùng lên, vớt bọt thường xuyên cho nước trong.
- Tôm khô rửa sạch.
- Mực nướng, xé nhỏ.
- 1 củ hành tây chẻ đôi.
- Tất cả bỏ vào nồi nước lèo. Nêm mắm, muối, đường, bọt ngọt cho vừa miệng. Một củ còn lại, xắt mỏng bỏ lên mặt với hành ngò. Giữ nồi nước lèo sôi âm ỉ cho đến lúc ăn.
- 1/2 thịt đem xay. Ướp hành, tỏi, tiêu, muối. Rồi đem xào với dầu ăn. Bỏ vào nồi nước lèo hoặc bỏ lên tô khi dọn ăn, tuỳ ý thích.
- 1/2 thịt ướp với bột xá xíu, vài giờ cho thấm. Rồi bỏ vào chảo với dầu ăn lên bếp, xíu cho thịt chín ráo. Để nguội, xắt lát mỏng vừa miếng ăn.
- Nếu thích gan, thì luộc với tí muối cho chín. Vớt ra, rồi xắt mỏng. Đậy lại, không thì gan khô đi.
- Tôm có thể trụng trong nồi nước lèo, vớt ra lột vỏ, chừa đuôi lại. Nhớ lấy đường ruột tôm trên lưng ra cho sạch sẽ. Để chung tôm, thịt xá xíu, thịt xay, gan cùng một đĩa.
- Hành ta lột vỏ, bào mỏng, cùng tỏi bằm xào lên với dầu ăn cho thơm, đừng để cháy. Đổ ra chén, khi ăn múc một muỗng hành phi tỏi bỏ vào trên mặt tô hủ tiếu.
- Khô thì ngâm nước ấm, rồi khi ăn trụng với nước sôi . Còn hủ tiếu tươi thì chỉ cần trụng với nước sôi khi ăn.
- Hủ tiếu và giá trụng với nước sôi. Bỏ vào tô.
- Sắp nhưn lên, rồi bỏ hành ngò, rau cần, hoặc hẹ, xong rưới nước lèo lên.
- Múc muỗng hành, tỏi phi cho vào tô.
- Vắt chanh, thêm ớt, như vậy là ta có một tô hủ tiếu Nam Vang hấp dẫn.
***Hủ tiếu có 2 cách ăn. Một là "hủ tiếu nước" nghĩa là nước chung với bánh. Hai là "hủ tiếu khô" nghĩa là nước để ra một chén riêng, ăn bánh và thịt có trộn gia vị trước, nước dùng húp trong quá trình ăn. Hình dưới là một tô hủ tiếu khô với chén nước lèo.


Món thứ 2 của miền Bắc là:
PHỞ
Phở có nhiều loại: tái, nạm, gầu, gân, béo, chính. Để nấu thịt phở người ta thường dùng thịt bò và gà.

Phở bò

Phở gà
Phở bắt nguồn từ miền Bắc Việt Nam, xâm nhập vào miền Trung và miền Nam giữa thập niên 1950, sau sự thất bại của Pháp ở Đông Dương và tình trạng Việt Nam bị phân chia hai miền. Người Việt Nam ở phía bắc di cư vào miền Nam năm 1954 mang theo món phở và phở đã bắt đầu có những sự khác biệt. Từ lúc này, những ý kiến trái ngược nhau về nguồn gốc của phở đã xuất hiện. Một vài trong số đó đưa ra luận điểm rằng phở bắt nguồn từ phương pháp chế biến món thịt hầm của Pháp (pot-au-feu). Sự có mặt của Pháp ở Việt Nam có lẽ củng cố luận điểm này, nhưng việc phở có nhiều gia vị và rau mùi nguồn gốc từ châu Á, đặc biệt là Việt Nam, đã bác bỏ chúng. Số khác lại cho rằng phở ảnh hưởng từ Trung Hoa vì dựa vào mặt địa lý, hơn nữa phương pháp sử dụng bột gạo làm bánh phở và nhiều đồ gia vị trong phở khá giống món hoành thánh của Trung Hoa, lại nghĩ từ “fun” là tiếng Quảng Đông, đọc trại đi thì nghe giống từ “phở”… nhưng chưa có bằng chứng xác thực hơn chứng minh được. Vì thế, nguồn gốc của phở từ Việt Nam có lẽ là ý kiến được nhiều người chấp nhận.
Sự xuất ngoại để tị nạn chính trị của những người Việt Nam trong thời kỳ hậu Chiến tranh Việt Nam đã làm cho phở được biết đến ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây. Đã có nhiều nhà hàng phở ở Mỹ, Pháp, Úc và Canada. Những người Việt Nam không thuộc diện tị nạn chính trị cũng mang phở đến những nước thuộc khối Xô Viết, bao gồm Nga, Ba Lan và Cộng hòa Séc.
Ngày nay, phở đã có những phương pháp chế biến và hương vị khác nhau. Tại Việt Nam, có những tên gọi để phân biệt chúng là: hay phở bắc (ở miền Bắc), phở Huế (ở miền Trung) và phở Sài Gòn (ở miền Nam). Thông thường thì phở miền Bắc đặc trưng bởi vị mặn còn miền Nam thì ngọt. Bánh phở ở miền Nam thì lại nhỏ hơn ở miền Bắc.
*Nguyên liệu:
- 1kg thịt bò có nhiều gân và hoặc có cục tủy để nấu súp
- Vài cục xương có tủy
- 400g thịt bò tái
- 1 bao bò vò viên
- Củ hành, gừng tươi
- Quế , bông hồi
- Muối, bột ngọt
- Bánh phở
- Rau ngò tây, rau quế, giá, chanh, nước mắm
- Hành lá, rau ngò (rau mùi)
- Tương ngọt và tương ớt
*Cách làm:
- Rửa thịt và xương xong, bỏ vào nồi lớn 2 lít nước ấm.
- Đợi cho nước sôi, vớt bọt, xong bỏ muối.
- Củ hành và gừng (cả hai đừng gọt vỏ) bỏ lên nướng cho thơm, rồi bỏ vào nồi nước dùng.
- Chừng 1 giờ sau hoặc có thể trể hơn, lấy nĩa ghim vào thịt xem thịt đã chín chưa, sau cùng là để bột ngọt vào. Để quế và bông hồi vào. Trong thời gian chờ đợi, luộc bánh phở, rửa rau, giá, thái thịt tái ra thật mỏng, thái thịt chín, cũ hành thái mỏng và chanh xắt ra làm 6.
- Khi gần ăn, lượt nồi nước phở sang một nồi khác, và bỏ bò vò viên vào.
- Để bánh phở vào trong một cái tô, trải thịt chín, thịt tái, cũ hành, tưới nước phở vào tô, nước phở cần đun cho thật sôi, không thì thịt tái sẽ không chín, vớt bó vò viên vào, rắc rau hành là, và ngò vào, rắc chút tiêu.
- Có người không thích ăn thịt tái quá, thì bạn nên lấy thịt để vào trong cái giá, nhúng sơ qua nước phở cho chín, rồi hãy để vào tô sau cùng.
- Hành lá, lấy phần trắng để nguyen, thả vào nồi phở khi chan nước dùng thì bạn hãy để lên tôi vài cọng.
***Món phở nấu lúc nào cũng công phu, nhưng nhứt là vào mùa lạnh, tối đi làm về có một tô phở nóng thật là tuyệt.
Và cuối cùng là...
BÚN BÒ HUẾ
Nguyên liệu nấu bún bò thì ngoài thịt bò còn có chả và giò heo.

Bún bò giò heo

Bún bò
Bún bò không có nguồn gốc ngoại lai. Bún bò là rất VN, rất "dân tộc". Bún là tiếng 'nôm', không gốc gác họ hàng gì với tiếng Tàu cả. Bò là con bò, thịt bò, cũng là tiếng "nôm" không dính dáng gì tới "ngưu" là tiếng người Tàu gọi chung cả trâu lẫn bò. Miếng thịt bò ngênh ngang nằm trong tô bún thì gọi nó là thịt bò, không ai gọi nó là "ngưu nhục".
Về bún bò thì đâu có riêng gì Huế mới có. Quảng Trị cũng có bún bò vậy, còn Quảng Bình thì sao? Qua khỏi đèo Hải Vân, bún bò Đà Nẵng trở thành một món ăn "lưu lạc" nơi xứ lạ quê người. Nó nằm lu thu một mình, lạc lỏng giữa đám mì Quảng ồn ào như ở hải cảng Đà Nẵng nhưng lại chẳng cô đơn khi vào tới thủ phủ miền Nam.
Gốc gác tô bún bò là những cộng bún nằm trong tô thịt bò có nước xáo thhịt bò mà không có thịt heo. Có lẽ miền Trung có những ngọn đồi thoai thoải thuận tiện cho việc nuôi bò, nhưng khi tô bún bò "định cư" ở Cố Đô thì nó có phần "thay da đổi thịt". Bên cạnh bún và thịt bò, người ta thêm vào đó một miếng giò heo. Đó là những cái chân của con heo đã cạo trắng, không còn chút lông, cái móng già đã được lấy đị Miếng giò heo được chặt làm đôi, mỗi bên mỗi móng vì chân heo chỉ có hai móng hoặc là một khoanh tròn phần trên của chỗ móng heo, đầy lên những da và thịt. Tại sao lại giò heo mà không là thịt heo, như tên gọi của nó: "Bún bò giò heo" (Không ai gọi "Bún bò thịt heo"). Lối ăn như thế là theo cách của người Tàu. Người Tàu cho rằng tinh chất của mỗi động vật tụ lại nơi chân của nó cho nên chân là phần bổ nhứt trong cơ thể con vật. Do đó, chúng ta thấy nhiều món ăn làm bằng chân động vật bổ và ngon đáo để.
Ngoài miếng giò heo, tô bún bò Huế cầu kỳ hơn với những miếng chuối bắp xắt lát (*), với những cọng rau quế trắng mà người ta cho rằng thơm hơn cọng rau quế đỏ. Chất chát của chuối bắp sẽ đẩy những mỡ, gia vị ra khỏi lưỡi, để cho cái lưỡi được "sạch", miếng thịt heo ăn tiếp sau sẽ ngon hơn. Các thứ thịt trong tô bún bò giò heo không có mùi tanh, kể cả miếng giò heo to, nó có mùi béo ngậy, kích thích giác quan người ăn. Cho nên có người ăn bún bò, không như khi ăn phở, không cần ăn thêm rau quế. Rau chỉ làm cho miếng ăn thơm hơn. Người nấu bún bò không mua loại heo nuôi theo kiểu công nghiệp. Giò heo họ nấu phải là thứ heo cỏ, lông đen, nhỏ con do người ta nuôi theo lối thủ công. Giò heo không lớn quá, mỡ không nhiều quá, da không dày quá mà lại dòn, nước ngọt.
Bún bò giò heo là món ăn của người Huế, nói riêng. Người Huế lại thích ăn ớt. Người Nam Kỳ ít thích ăn ớt, thấy tô bún ngon nhưng chỉ cứ ngồi nhìn, không dám đụng đũa. Trên mặt nồi bún là một lớp váng đỏ au do ớt bột tao với mỡ. Mặc dù người bán bún đã lấy cái vá chao trên mặt nồi cho váng ớt tan ra hai bên trước khi múc nước cho vào tô bún, bề mặt tô bún vẫn là một lớp ớt đỏ lóng lánh mỡ. Thế mà trên bàn, đôi khi còn có thêm một dĩa ớt sừng trâu hay ớt mọi (ớt hiểm) hay một chén tương ớt. Vừa ăn, thực khách vừa xuýt xoa vì cay, có khi toát mồ hôi, rớm nước mắt, trong cái bấc lạnh của vùng Châu Á Gió Mùa từ biển Đông thổi về mới đúng với cái thú ăn bún bò trong mùa lạnh.
*Nguyên liệu:
- 1 kg xương đuôi bò
- 800 gr giò heo trước
- 400 gr thít bò nạm
- 2 củ hành tây
- 1 bó sả
- Bắp chuối bào, giá sống, hành lá, ngò gai
- 2 trái chanh
- Ớt trái, ớt bột
- 2 muỗng súp mắm ruốc
- 1/3 chén mỡ
- 1 muỗng bột hột điều dầu
- Nước mắm + muối + bột ngọt
- 2,5 kg bún sợi to
*Cách làm:
- Xương bò, giò heo: rửa sạch, chặt khúc
- Sả: 1/2 cắt khúc bó lại. 1/2 bằm nhỏ
- Thịt nạm: rửa sạch, để ráo nước.
- Đổ vào nồi 3 lít nước + 1/2 muỗng cafe muối + 1/2 bó xả. Nước vừa sôi tim cho thịt bò & xương bò vào nấu. Nước sôi được 10 phút cho giò heo vô. Tiếp tục nấu lưả vừa, hớt bọt thường cho trong nước. Xem chừng loại thịt nào chín mềm trước thì vớt ra đầu, không để rục quá. Khi vớt hết thịt ra, lọc mắm ruốc đổ vào nồi. Nêm thêm bột ngọt và nước mắm cho vừa ăn.
- Chảo mỡ nóng cho củ hành lá đập dập vào xào cho thơm, kế đến cho xả bằm + ớt bột + bột hột điều dầu + 1 trái ớt chín bằm nhỏ vào xào vàng, cho 1/2 hỗn hợp nầy vào nồi nước dùng. Với 1/2 hành ngò gai băm nhỏ.
- Thịt nạm: thái mỏng, to bảng.
- Thịt giò: lóc phần có nhiều thịt ra khỏi xương, xắt giống thịt nạm.
- Củ hành: xắt khoanh.
- Ngò gai: bằm nhỏ
- Cho bún vào tô, bên trên để thịt nạm + thịt giò và 1 nhúm ngò gai + củ hành. Nước dùng nấu thật sôi, chế vào tô bún.
***Dọn ăn với bắp chuối bào + giá sống + rau ngò gai + hún cây và xả ớt xào. Khi ăn cần thêm chanh.
Sau đây là những "cực phẩm" khác cũng ngon không kém... Có thể xem chúng là fastfood cũng chẳng sai. Thêm nữa, chúng là những thức ăn nóng, rất ngon, bổ và tốt cho sức khỏe. Chỉ cần gọi và ngồi chờ 5 phút, bạn sẽ có ngay một phần "fastfood Việt Nam" chất lượng tuyệt hảo, hơn hẳn bánh mì sandwiches hay hamburgers.


Bánh bao


Bánh mì kẹp thịt

Bún thịt nướng

Bánh cuốn

Bánh ướt

Một dĩa bánh cuốn đầy đủ chả và bánh tôm

Cơm tấm sườn

Cơm tấm bì chả

Bánh canh giò heo

Bò viên

Bún bò viên

Bún măng giò heo

Bún măng vịt

Bún mọc

Miến gà

Cháo lòng

Bún ốc

Bún riêu
Tui xin giới thiệu công thức chế biến của 3 món ngon nhứt đối với tui.
Bánh bèo

Đây là một loại bánh được coi là đặc sản của Huế. Khi thưởng thức chớ quên dùng với chén nước chấm có vị ớt cay nồng, ngọt ngọt.
*Nguyên liệu:
- 150g bột gạo
- 100g bột năng
- 200g tôm đất sống
- 100g nạc dăm
- Nước mắm ngon và ớt xanh
- 1 muỗng cà phê đầu hành băm nhỏ
- Muối, tiêu, dầu
- 2 muỗng canh hành lá cắt nhỏ
*Thực hiện:
- Cho bột gạo và bột năng vào tô lớn. Pha 3 chén nước lạnh, nêm chút muối và một muỗng canh dầu ăn, khuấy bột tan trong nước.
- Cho nước lạnh và xếp chén vào xửng nấu sôi nước trong xửng 10 phút, chén nóng múc bột vào 1/2 chén, hấp 15 phút bánh bèo chín, lấy ra để nguộị.
- Tôm lột vỏ lấy chỉ đen trên lưng, thịt băm nhỏ cùng tôm, ướp muối tiêu và đầu hành
- Nấu dầu sôi cho hành lá vào trộn đều 5 phút, múc ra chén, cho tôm thịt vào xào chín, nhấc xuống.
- Bày bánh bèo ra đĩa, múc tôm thịt cho lên bánh bèo, và rưới mỡ hành, dọn ăn cùng nước mắm và ớt xanh.


Từng chén bánh bèo Huế

Bánh bèo miền Nam
Bánh đúc mặn - Bánh đúc bột gạo




*Nguyên liệu:
- 2 chén bột gạo
- 1 muỗng canh bột năng
- 2 chèn nước lạnh
- 2 chén nước cốt dừa
- 1/2 muỗng cafê muối
- 1/2 muỗng cafê đường
- 1/4 muỗng cafê bột ngọt
- Hành lá cắt nhỏ
- Dầu ăn, tôm chấy
*Cách làm:
- Bột gạo, bột năng, nước lạnh, nước cốt dừa, muối, đường trộn chung.
- Lấy khuôn non-stick (chảo không dính) tráng chút dầu ăn, đổ bột vào khuôn rồi đem đi hấp khoảng 20 phút. Lấy đầu tăm thử vào bột, nếu đầu tăm khô là bột đã chín.
- Hành lá cắt nhỏ, cho dầu ăn vào và xào sơ chút cho thơm.
- Cắt miếng bánh tùy theo ý mỗi người nha. Cho bánh ra dĩa, rắc tôm chấy, cho hành lá vào dùng với nước mắm chua ngọt, đồ chua thái chỉ và ớt bằm.
- Cách làm tôm chấy: ngâm khoảng 1 chén tôm khô cho mềm, rồi bỏ vào máy xay nhuyễn , cho vào chút xíu bột màu đỏ. Trộn đều lên rồi cho lên bếp rang tôm. Nhớ cho chút dầu ăn và tiêu vào.
Tàu hủ nước đường

*Nguyên liệu:
+ Sữa đậu nành không đường Soyo đóng hộp : 3 lít
+ Đường thẻ vàng(đường thùng): 400g
+ Bột gạo: 50g
+ Thạch cao phi (loại dùng cho chế biến thực phẩm): 1 muỗng
+ Lá dứa
+ Gừng
*Cách thực hiện:
- Để sữa đậu nành vào nồi nấu sôi khoảng 10 phút, cho lá dứa vào cho thơm. Trước đó để lại khoảng 1 chén sữa đậu nành để tán với bột gạo.
- Chuẩn bị bột gạo: cho vào trong chén sữa lúc nảy để dành, tán cho bột gạo tan hết, chờ sữa sôi lên khoảng 10 phút, lấy lá dứa ra. Cho bột vào nồi bằng cách dùng ray lược bột gạo rồi cho từ từ cho vào nồi, để chắc rằng bột gạo đã được tán nhuyễn hết.
- Chuẩn bị nước đường: cho 1 lít nước vào nấu chung với đường cho đến lúc sôi, bỏ gừng đã thái lát vào chờ sôi trở lại.
- Sữa nấu với bột gạo sôi lên, dùng ray lược lại hỗn hợp này để khi hoàn tất món tàu hủ được mịn.
- Thạch cao phi 1 muỗng hòa tan với 1 muỗng nước, sau đó trét hỗn hợp này vào mặt đáy và thành của một cái nồi sạch (nồi inox), sau đó chờ sữa và bột sôi trở lại, lược qua ray rồi cho vào nồi này, đậy nắp khoảng 2 tiếng là tàu hủ đông lại.
*Thưởng thức: tàu hủ được ăn với nước đường nấu gừng , nếu thích béo có thể ăn kèm với nước cốt dừa. Món tàu hủ là món ăn dân gian của người Việt Nam, rất thơm ngon và bổ dưỡng.
Sữa đậu nành

Đây không phải là món tui thích nhứt nhưng lại là thứ thức uống bổ dưỡng và tốt cho sức khỏe (đặc biệt là tác dụng chống lão hóa)nên tui cũng giới thiệu công thức chế biến luôn.
Công thức cho 1 lít sữa đậu nành:
- 100gr đậu nành
- 30gr đậu phộng đã xát vỏ
- Đậu nành ngâm qua đêm hoặc ít nhất 6h cho nở hết, xát sạch vỏ, cho vào máy xay sinh tố với một chút nước cùng 30gr đậu phộng, rồi lọc bằng túi vải xô cho đủ 1 lít nước. Nước đậu nành đã lọc đun nhỏ lửa, ko đậy vung, sôi là xong.
Và những món khác đây...
Bánh ít trần
Bánh ít nhân dừa
Bánh bò
Bánh tiêu
Giò chéo quẩy
Bánh cam
Bánh vòng
Bánh chuối nước dừa
Bánh cúng
(Thứ bánh này thật lạ, chỉ tìm thấy ở mỗi quê tui, Vĩnh Long. Chỉ toàn là bột, không có nhưn gì hết nhưng tui lại rất thích ăn)
Bánh da lợn, bánh chuối, bánh khoai mì
Bánh đúc
Bánh giò
Bánh khọt
Bánh nếp ống
Cốm dẹp
Bánh tằm
Bánh chuối nếp nướng
Chuối xào dừa
Chuối chiên
Cóc xoài mía ghim
Cá viên chiên
Phá lấu
Bắp ta luộc
(Tui thì thích ăn bắp ta hơn là bắp Mỹ)
Bắp nướng
Bắp xào
Bánh mì nướng mỡ hành
Bò bía
Gỏi cuốn
Gỏi khô bò
Bột chiên
Hột vịt lộn
(Hột vịt lộn thì phải ăn kèm với rau răm)
Khoai lang chiên
Khoai mì
Khô bò
Khô nai
Rau câu
Yogurt
Đá bào
Kem
Ý tui không phải là kem Wall's hay kem Pinky, Goody mà chỉ đơn giản là cà rem Việt Nam, gồm có 1 bánh kẹp bên ngoài (có khi là bánh mì), bên trong là những viên kem tròn tròn có màu xanh đỏ vàng, rắc đậu phộng tán nhuyễn bên trên và rưới thêm sữa bò Ông Thọ chung quanh. Mùi vị rất ngon, khác hẳn với kem công nghiệp đóng gói. Giờ thì rất hiếm người còn bán loại kem này. Có lẽ sau này nó sẽ mất tích luôn dưới sức mạnh của kem công nghiệp.
Đậu phộng nấu
Đậu phộng da cá Tân Tân
Bắp xôi
Xôi gấc
Xôi vị
Xôi mặn (xôi gà)
Xôi vò và cơm rượu
Cháo trắng (lá dứa) cá cơm
Cháo trắng (lá dứa) hột vịt muối
Gỏi ngó sen
Bánh tôm Hồ Tây
Bánh xèo
Chả giò
Chạo tôm
Bánh tráng Trảng Bàng
Mì xào giòn
Bò kho
Bún thang
Cơm chiên Dương Châu
Cơm hến
Cơm lam Tây Nguyên
Cơm niêu
Cơm đập
Cơm lá sen
Thức uống giải khát
Nước mía
Rau má
Nước dừa tươi
Nước sâm
Hột é
Sương sâm, sương sa
Sinh tố có nhiều loại. Ở đây tui giới thiệu món điển hình là sinh tố bơ
Nước ép xoài
Trà sữa trân châusưu tầm "Mùi Vị Ẩm Thực"
|
|
TTO - Ở một số vùng miền, bánh cay có lẽ là một cái tên còn khá xa lạ, thế nhưng với nhiều người, nhất là dân Sài Gòn, bánh cay lại mang một nét đặc trưng, sự quyến rũ lạ kỳ.
Từ một cái tên
Có lẽ chẳng tìm thấy món ăn nào mặn mà, da diết như bánh cay. Miếng bánh nho nhỏ, xinh xinh, vàng ruộm lấm tấm chấm đỏ li ti khi ăn tức thì giòn tan trong miệng, mùi thơm nồng làm người ăn bắt nghiện khi vị giác đã bắt đầu “nóng” lên bởi chất cay của ớt, của gia vị hòa tan trong từng miếng bánh.
Bánh cay là một loại bánh dân dã, được chế biến bằng nguyên liệu đơn giản, dễ tìm là khoai mì và ớt, gia vị cũng là các loại rau thơm khác. Tuy nhiên, nhiều người chế biến bánh cay thiếu đi các loại rau thơm đi kèm, vì thế mà mùi vị khác hẳn so với mùi vị thông thường của nó. Hình dạng bánh cay cũng rất đơn giản, người bán chỉ cần nhón một miếng bột nho nhỏ bằng đầu ngón tay cái rồi khéo léo viên tròn lại hoặc nắn theo dạng hình thoi rồi cho vào chảo ngập dầu chiên vàng tới khi bánh ngả màu vàng ruộm thì được.
Cách làm bánh cay đơn giản như chính tên gọi của nó. Nguyên liệu chủ yếu để làm bánh cay là bột khoai mì. Đó là khoai mì (củ sắn, củ mì) tươi, sau khi bóc vỏ, rửa sạch ngâm nước có pha chút muối cho bớt chất xyanua, mủ nhựa rồi bào lấy bột mịn. Bột sau đó được trộn với một ít bột mì, bột nghệ, thêm chút gia vị cho mằn mặn rồi băm ớt đỏ trộn vào.
Ớt nhất thiết phải là ớt chín mới có thể lột tả được hết mùi vị và màu sắc của loại bánh này. Và dĩ nhiên không thể thiếu các loại rau thơm như húng quế, húng lủi, kinh giới, tía tô băm thật nhuyễn mịn rồi trộn chung với bột. Tuy nhiên, đã thưởng thức bánh này nhất thiết phải là người ăn được cay thì mới ngon, mới cảm hết được cái thú đậm đà của món ăn chơi nhưng chứa đựng nhiều điều lạ.
Lại nói về cách làm bánh. Bột sau khi được trộn kỹ, người làm bánh chỉ việc nhón ngay những miếng bột nho nhỏ bằng đầu ngón tay, vo tròn lại hay nắn theo hình thoi, hình bầu dục, có người còn khéo léo nắn thành hình các con vật ngộ nghĩnh, xinh xắn khác rồi đem chiên giòn. Một điểm thú vị khi chiên bánh đó là phải để bánh có đủ độ giòn người thợ không chỉ phải canh sao để bánh vàng, giòn mà còn phải vừa chín.
Nếu bánh chưa chín khi ăn sẽ có mùi ngai ngái khó chịu của sắn tươi, để một lúc bánh sẽ mềm mùi sắn tỏa ra càng nhiều càng khó ăn. Còn nếu bánh được chiên vàng, chín đều khi ăn giòn tan trong miệng, có mùi thơm thơm, nồng nồng, vị ngọt ngào mà đậm đà của sắn, của gia vị đi kèm. Nhưng ấn tượng nhất là sau khi ăn, cái cảm giác cay xè của những người không quen với vị cay nhưng cũng đủ để hít hà đối với những người ưa cay.
Chẳng phải vì thế mà nó có cái tên nghe thật đơn giản nhưng cũng vô cùng ấn tượng “bánh cay” đó thôi.
Nếu nói bánh cay kén chọn người ăn thì quả thật nói oan cho nó. Ngoài những người có thể thỏa thuê thưởng thức món bánh cay, những người vốn không quen với vị ớt cũng có thể nhâm nhi rồi tha hồ hít hà. Không hẳn chỉ dành riêng cho chị em phụ nữ mà cánh mày râu cũng khoái khẩu không kém. Có lẽ vị mát lạnh của bia, vị cay nồng của rượu sẽ hòa quyện nồng nàn hơn, đằm thắm hơn khi trộn lẫn vị cay của bánh, tạo nên một sự kết hợp hết sức hoàn hảo.
Không hẳn thế, trong cái lạnh của mùa đông hay tiết trời se se, mát mẻ của cơn mưa đầu mùa thì một miếng bánh cay còn góp phần gắn bó hơn tình cảm mặn mồng, ấm cúng của từng gia đình. Đối với người dân Hàn Quốc, Thái Lan - xứ sở của những vị khách ưa chuộng vị cay nồng của ớt, thì lại phát hiện thêm một điều thú vị từ món ăn chơi dân dã mà thú vị này.
Đến mùi vị loại bánh
Nếu làm đúng theo nguyên tắc thì có lẽ cái tên bánh cay kén chọn người thưởng thức hơn. Thế nhưng, dưới bàn tay của người thợ nó được biến tấu phù hợp hơn để ai cũng có thể thưởng thức được món ăn mang nhiều cảm giác này. Đầu tiên là lạ với vị thơm thơm, giòn tan trong từng thớ lưỡi, tiếp theo là vị cay cay được lan tỏa khắp các giác quan của cơ thể.
Ở Sài Gòn, nếu bạn muốn thưởng thức món bánh này cũng thật đơn giản, bạn chỉ cần ghé qua các xe bán bánh của những người bán dạo là đã có cơ hội thử món bánh lạ này rồi. Tuy mỗi nơi có một vị khác nhau, có nơi thì cay vừa, cay xé nhưng có nơi chỉ thoang thoảng cay cho những ai muốn làm quen. Không phải chỉ làm cho nó cay để giống với tên gọi của nó mà chính là làm vừa lòng người thưởng thức nhưng cũng là vì cái duyên, cái lạ, cái đặc biệt của nó.
Nếm bánh cay mà không kèm với nước chấm thì không còn gì thú vị. Một trong những cách làm vừa lòng thực khách đó chính là chén nước mắm cay đi kèm. Người bán có thể tùy vào sở thích ăn cay của bạn mà làm nước mắm cay nhiều hay ít. Nếu muốn cay nồng, cay xé chỉ việc cho thêm ớt, còn không ăn được thì ngược lại, lượng ớt chỉ cho vừa đủ.
Giờ đây, trước cổng trường học các cô cậu học trò cũng rất chuộng món bánh cay. Thường thì người ta không bán riêng bánh cay mà còn đi kèm những món quà vặt nóng giòn khác như bánh cam, chuối chiên, khoai lang chiên, khoai mì hấp hoặc khoai mì sợi ăn với dừa bào… những thứ quà vặt dùng để ăn chơi. Có thể nói với ẩm thực của người Sài Gòn, dù bạn theo phong cách nào đi nữa cũng có thể chiều. Bởi lẽ cung cách phục vụ của người Sài Gòn cũng phóng khoáng lắm.
Theo TTO |
|
|
Ngày còn nhỏ tôi đọc tác phẩm "Rừng Mắm" của nhà văn Bình Nguyên Lộc mà tôi cứ ngỡ ông muốn ít nhiều nói về những món mắm miền Nam ê hệ Nhưng thật sự không phải vậy. Truyện nói về cây mắm mọc lên hằng hà sa số. Nó tạo ra sự ích nối tiếp về sau qua câu chuyện trao đổi giữa hai ông cháu như sau:
"Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.
Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
- Ông với lại tía của con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồị Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau. Đời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng...
Ông nội vui vẻ quá, vì ông bỗng sực nhớ lại những câu hò của thế hệ người tiên phuông đi khai thác đất hoang ở miền Nam, mà ngày nay thế hệ tràm không hát nữạ Ông cất giọng khàn khàn lên:
Hò... ơ... Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong sao cứ chảy hoài,
Thương người xa xứ lạc loài đến đây."
(Bình Nguyên Lộc)
Tuy vậy, bài văn có nhắc đến món ba khía và bồn bồn. Bồn bồn ở miệt Cà Mau rất nhiều, người ta duuu`ng làm dưa, gọi là dưa bồn bồn. Còn ba khía và còng được làm mắm. Trong tinh thần văn chương ẩm thực về các món mắm, những đặc thù của vùng đất miền Nam, bài viết sẽ lạm bàn về mắm, và dỉ nhiên trong tầm hồn yêu mắm.
Theo nhà văn Sơn Nam thì ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có rất nhiều loại mắm: mắm cá lóc, cá rô đồng, cá trê vàng ở miệt rừng U Minh, Cà Mau, mắm Thái Châu Ðốc, tôm chua Gò Công... Ta có thể kê khai những thổ sản đặc sắc của miền Nam như Mắm còng, mắm tôm chà, ba khía,... Hãy nói về ba khía đi nhé.
Ba khía:
Ba khía là loại sinh vật sống ở bến bãi, sông rạch trong rừng ngập mặn, hình dạng giống con cua; lớn hơn con còng, trên cái yếm màu nâu sẫm của nó có ba cái khía, tức 3 gạch nên người ta cho nó cái tên cúng cơm là ba khía.
Từ miệt Sóc Trăng về Bạc Liêu xuống tận mũi Cà Mau, men theo những cánh rừng mắm đen mọc giáp biển là những vùng có lắm ba khía. Từ tháng tám trở đi, lúc mùa màng đã xong, người quê lại rủ nhau chèo ghe đi bắt ba khía. Người bắt ba khía phải canh theo con nước, lúc nước lớn, ba khía bám đầy thân cây mắm, như Bình Nguyên Lộc đã đề cập ở trên. Vào khoảng tháng mười là mùa ba khía sinh sản nhiều vô số kể. Đi bắt ba khía rất vui vì phải đi ban đêm, bởi vào tối khuya ba khía di chuyển chậm chạp, mình thò tay là chộp dính ngay vài chú thiếm ba khía. Mỗi bận đi bắt như vậy ghe trở về với những khạp đầy ba khía. Người biết rành về còng và ba khía thì tháng năm hàng năm thì ba khía cái có trứng đeo đầy sau yếm, các thiếm ba khía mập mạp, đô con va chắc thịt.
Ba khía mang về đem ngâm nước, rửa thật sạch đất bùn. Sau đó mới gỡ bỏ mai, bẻ đôi thân ba khía, cả càng, gọng cũng bẻ rời, đem trộn tất cả vào gia vị như tỏi, ớt, đường, chanh hoặc dùng khóm bằm nhuyễn, xong ngâm hổn hợp một buổi cho ba khía thật thấm. Khi vị ba khía được đầy đủ độ mặn, chua, ngọt thì ba khía sẽ ngon và dịu khi ta thưởng thức. Cách ăn ba khía là tách yếm làm đôi rồi bẻ nhỏ ngoe, càng ba khía ra để chiêm ngưỡng gạch son, rưới lên cơm phần nước đã có trong yếm trộn chung. Vắt thêm ít chanh tươi trước khi ăn, mà ăn ba khía phải ăn với cơm nguội mới đúng điệu đồng quê, và đừng quên nhai thêm vài trái ớt hiểm, vài tép tỏi, vài lát gừng sống vừa nhai cho âm ấm bụng - huhu... để mắt nhòa lệ vì nồng độ cay cay dâng tràn bờ mi quyện vào mùi thơm nhớ đời ba khía.
Mắm còng:
Bàn về món mắm còng, theo Giáo sư Trần Văn Chi viết trong bài "Hương vị Miền Nam: Mắm Còng", đất rẫy là đất vào mùa khô bị ngập mặn bởi nước biển tràn vào, chỉ làm ruộng hay trồng trọt được vào mùa mưa, như vùng ven biển Gò Công, Bến Tre. Con còng ở Gò Công kêu là "còng quều", thuộc loại cua, rạm, ba khía, cua đồng... Còng nhỏ hơn cua biển, cỡ ngón tay cái người lớn, có màu tìm sậm...
Còng ở Gò Công thì nhiều vô kể. Trời bắt đầu “mưa già” một chút thì còng không biết ở đâu xuất hiện ở ruộng rẫy nhiều vô số, thấy phát sợ... Nhiều người Gò Công nghe nói tới mắm còng là phải chảy nước miếng! Và cũng không ít dân Gò Công chưa ăn món mắm còng, hoặc chưa biết, chưa nghe tên món mắm còng, dầu đó là món ngon độc đáo, đã nổi tiếng là “món ngon tiến cung, với tên gọi gắn liền với địa danh Gò Công. Con còng lột đem làm mắm gọi là mắm còng, chỉ có ở Gò Công và Bến Tre và đã từ lâu món nầy được lưu truyền trong dân chúng, được liệt kê vào bản món ngon quý hiếm từ thời bà Từ Dũ.
Cứ vào mùa Tết Ðoan Ngọ thì con còng bắt đầu bỏ lớp vỏ cứng, lột xác thành con còng lột. Mỗi năm chỉ có một lần, vào đúng ngày mùng 5 tháng 5 Âm Lịch, còng lột rộ, người địa phương gọi là ngày hội còng lột.
Còng sau khi được rửa đi rửa lại bằng nước sạch; phải chích bỏ yếm, bỏ miệng và mắt, lấy cho hết "bọng cứt"... nghĩa là các chất dơ trong bụng còng, thì con mắm mới ngọt, nước mắm mới trong. Nhớ phải cho còng "uống rượu", nghĩa là ngâm với rượu đế, khử mùi tanh.
Vớt còng ra, để cho ráo rồi nhẹ tay, mẹ tôi sắp từng con còng vào hũ thật đầy và gài chặt bằng lớp lá vông và mấy que ổi.... Mắm cuối cùng được chan bằng nước mắm ngon nấu với đường, để nguội. Trời Tháng Năm nắng gắt, phơi độ trên mươi ngày là hũ mắm bắt đầu nghe mùi thơm, có thể ăn được rồi...
Mở nắp hũ nghe mùi thơm độc đáo không thể tả, nhìn lớp bọt li ti nổi trên mặt, màu nước mắm trong veo, màu con mắm còng tím sậm... bạn sẽ biết được hũ mắm ngon cỡ nào.
Trúc hũ mắm ra thau, trộn thêm phu gia như tỏi, ớt, đường và khóm bằm nhuyễn. Khóm là chất xúc tác giúp cho gia vị thấm vào con mắm và làm cho mắm còng mặn mà dịu và ngon như ý. Nhớ mắm trộn xong gia vị phải để "cách nhựt", ngày hôm sau, mắm mới thấm, và ăn mới ngon.
Theo Giáo sư Xuân Tước kể về Đặc Sản Quê nhà, ông đề cập về món mắm còng như sau:
Người ở vùng sông Cửu Long thường hát:
"Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng,
Về sông ăn cá, về giồng ăn dưa."
Rẫy là một vùng đất miền nước mặn. Ở các vùng Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh, người ta thường làm rẫy, trồng nhiều loại rau cải, thơm khóm, và cũng là vùng sinh sống lý tưởng cho các loại còng...
Mắm Còng món ăn thượng hảo hạng của xứ Gò Công. Gò Công là một vùng đất nằm theo vùng biển và miệt sông Cửa Tiểu. Xứ Gò Công rất nổi danh vì đây là vùng quê cha của đại thần nhà Nguyễn là ông Phạm Đăng Hưng. Nhà họ Phạm gã con gái cho vua Thiệu Trị về sau này là Thái Hậu Từ Dũ, mẹ của vua Tự Đức. Vì ở gần biển nên các vùng đất Gò Công là nơi sinh sống của nhiều loại còng. Nhưng đáng giá nhất là còng đỏ. Loại còng này thân đỏ, chân và càng cũng màu đỏ ửng xanh.
Chúng lớn bằng chừng chân cái của chúng ta và là nguồn sản xuất mắm còng, một loại mắm đặc sản của các vùng biển và rất hiếm có. Không phải nơi nào cũng có thể làm mắm còng. Hai nơi quan trọng là vùng biển Gò Công và Bến Tre, nhưng Gò Công có nhiều còng đỏ hơn Bến Tre.
Không phải mùa nào cũng có thể làm mắm còng. Thấy còng nằm đỏ bãi sông, nhưng không ai bắt còng chắc mà làm mắm, chỉ bắt còng lột mà thôi. Và mỗi năm còng chỉ lột có một lần vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch. Đến ngày này, người dân Gò Công đi bắt còng lột. Mà là những trũng nước nhỏ để còng vùi mình xuống đó mà lột. Người ta quậy nước muối sẵn, rồi chống xuồng theo bờ sông, bờ lạch, nhìn chỗ nào có còng là ghé lại, bắt một con còng mềm nằm dưới. Còng lột được bỏ vào nước muối có pha đường để ngâm. Khi còng đã thấm mặn thì người ta đem phơi nắng. Thường có hai cách để làm mắm còng:
-Còng lột được rửa sạch, đong 10 chén còng thêm 1 chén tỏi ớt. Cho vào cối quết cho dập, sau đó nhận vào hũ, trộn thêm rượu để cho hết mùi khai nồng. Đem phơi chừng 3 ngày cho được nắng, rồi lấy nước cốt còng đem phơi cho quánh lại thì dùng được. Lúc dọn ra ăn thì trộn còng với chanh, khóm, đường, tỏi, ớt.
Còng lột được rửa sạch để cho ráo nước, trụng với nước sôi nếu muốn khử trùng, đong hai chén còng, một củ tỏi, mười trái ớt. Tất cả trộn chung rồi cho vào hũ, đem phơi nắng cho thấm đều. Muốn ăn, nêm chanh, khóm, đường, tỏi ớt.
Từ miền quê Gò Công, Bến Tre đến các vùng chợ, mắm còng được mọi người ái mộ. Ở đâu muốn ăn mắm còng cho ngon, cũng phải trộn với thịt ba rọi hay thịt nướng và ăn với nhiều rau sống, như: húng cây, húng lũi, tía tô, kinh giới, dấp cá, quế, gừng và ớt. Mắm còng mà ăn với bún thì ngon tuyệt. Ở vùng quê hay các vùng chợ thuộc miền Nam Việt Nam, mắm còng còn có hương vị đậm đà của quê hương. Màu bún trắng, mắm còng màu thâm, tía tô màu tím, rau húng màu xanh… trộn với một chút mắm còng thơm phức, người ta thưởng thức được hương vị đậm đà của quê hương.
Mắm tôm chà:
Nghề làm mắm tôm chà xuất hiện từ đầu thế kỷ 19. Lúc sinh thời, bà hoàng Từ Dũ cùng gia đình đã chế biến và giới thiệu món này cho triều đình nhà Nguyễn. Bà Từ Dũ nhủ danh Phạm Thị Hằng - con gái của Quốc sử quán Tổng tài Phạm Đăng Hưng được tiến cung năm 1824 và sau đó đã trở thành đức Thái hậu Từ Dũ, vợ của vua Thiệu Trị, mẹ của vua Tự Đức. Do hương vị đặc trưng từ Gò Công của Hòang thái hậu mà được triều đình Huế thường dùng để tiếp đãi khách trong các buổi yến tiệc, những dịp lễ lạc. Món mắm tôm chà đã chào đời vào khoảng 200 năm.
Mắm tôm chà khi biến chế người ta dùng tôm đất hay tôm bạc thẻ ở sông, hay có thể thế bằng tôm sú (tôm vùng biển) miễn còn tươi, nếu còn sống càng tốt, cho vào thau ngâm với rượu đế khử mùi tanh chừng 5, 7 phút. Sau đó vớt ra để ráo rồi bỏ vào máy xay thật nhuyễn, sau đó đem chà trên ray có lỗ thật nhỏ để chắc lấy nước, phần vỏ và thịt được bỏ đi. Nước tinh chất của tôm được đệm thêm vào đường, muối, ớt bột, tỏi rồi đem phơi ít nhất một tuần dưới ánh nắng để cho sản phẩm đặc kẹo lại mới dùng được. Thông thường thì cứ ba ký tôm mới làm ra được 1 ký mắm tôm chà mịn màng thơm dịu.
Mắm tôm chà có thể dùng nguyên chất hoặc có thể pha thêm tỏi, ớt băm nhuyễn, đường, chanh tùy khẩu vị và được dùng với bún, thịt luộc, rau sống, khế, dưa leo, chuối chát, xoài sống thái lát. Khi ăn quệt thịt, soài lát vào hổn hợp mắm tôm cùng bún và rau.
Trong Thú ăn chơi Tản Đà tiên sinh đã viết: "Tôi có qua chơi vùng nhà quê Long Xuyên, cùng ăn bữa cơm nhà một ông Chánh tổng, nhiều thứ mắm thiệt ngon". Do vậy, xin kể ra vài loại mắm đặc trưng nữa:
Mắm cá linh:
Cá linh còn có thể làm mắm. Cá làm sạch, cho vào hũ ướp muối, ba ngày sau dùng vỉ tre gài chặt xuống. Một tháng sau, vớt ra trộn thính vào rồi cho vào hũ gài chặt như trước. Một tháng sau, lại vớt ra cho đường vào , rồi đổ vào hũ gài chặt lại. Thêm một tháng nữa là mắm có thể dùng được.
Mắm cá linh có thể ăn vơi bún hoặc cơm, hay làm mắm kho với cá, tôm, thịt ba rọi thái mỏng và cà tím.
Mắm cá trèn:
Mắm cá trèn được xem ngon hơn mắm cá linh. Mắm cá trèn ăn vơi bún, thịt ba rọi luộc và rau sống.
Mắm thái:
Mắm thái được làm bởi cá lóc loại to, thịt nhiều được thái filet. Cá được ngâm muối. Mắm ngon thông thường là mắm có mùi thơm dịu, thịt ửng hồng không cứng quá cũng không mềm nhũng. Trung bình mất khoảng 6 tháng đến 1 năm. Sau đó mắm được chao đường, chọn đường thốt nốt thắng cho có chỉ rồi thêm gia vị là lúc màu sắc, hương vị được định độ ngon của con mắm. Dùng mắm lóc filet bỏ da, tách xương, thái thành sợi, màu thính phải tươi, hạt thính nhuyễn, đường thắng kẹo sệt có màu vàng đỏ. Đu đủ trộn với mắm phải là đu đủ mới, còn xanh, bỏ vỏ và hột, bào thành sợi mỏng, muối mặn để khoảng 10 ngày cho hết mùi, xả sạch. Tỷ lệ thịt và đu đủ 50/50, sao cho sợi mắm không bị nhão, có vị bùi của mắm, vị ngọt, dòn của đu đủ.
Mắm ruột:
Mắm ruột là mắm được làm từ ruột cá lóc. Cá được chọn để chế biến món mắm phải là loại cá lóc to, ngon nhất là loại cá lóc có trứng mang sắc vàng ươm. Cá được làm sạch phần bao tử và ruột non của cá. Sau khi làm sạch ruột cá xong, ruột cá được rửa sạch, ngâm nước muối. Cách pha nước muối cũng là một kỹ thuật, vì sau khi pha độ 2 – 3 ngày, ruột cá phải thấm mặn đến tận bên trong để mắm mới không bị hư. Sau đó vớt ruột cá ra để cho thật ráo nước và đem trộn với thính, rồi cho vào hủ ém thật chặt. Kế đến chế nước mắm nhỉ lên trên mặt, phải là nước mắm nhỉ mới cho hương thơm đậm đà. Người ta thường ướp ruột cá và nước mắm trong vòng một tháng, sau đó đem chao với đường thốt nốt được thắng vàng, đến khi nguội thì hương vị của món mắm ruột tỏa ra rất thơm. Để có hủ mắm thật ngon, trung bình phải mất 4 tháng. Nguyên liệu dùng để ăn kèm là xà lách, húng cay, khế, chuối chát, ớt sừng trâu, đu đủ và củ riềng thái sợi nhỏ, thịt ba rọi luột thái mỏng, bánh tráng, bún và sau cùng là một chén nước mắm chua chua ngọt ngọt thật cay. Mắm ruột cũng như mắm lóc thái ăn với bún, hoặc cuốn bánh tráng tùy sở thích.
Mắm xé:
Mắm xé ngon nhất là mắm cá sặt, mắm cá lóc... Ngày xưa khi tôi được dịp ghé thăm các tỉnh miền tây, bà conn hay ba`nn bè mời ăn món bình dân nhưng độc dáo này. Bên cạnh dĩa mắm xé có đĩa rau sống, dưa mleo, xoài bằm, dứa, mít non, khế, chuối lát cắt lát... đừng quên ớt hiểm thật cay vị giác. Khi ăn vào hổn hợp của vị chua, chát, ngọt, cay thấm vào làm dịu mắm cá.
Mắm kho:
Mắm cá sặc hoặc mắm lóc được nấu tan trong nước dậy mùi sả băm, tỏi phi vàng. Nồi nước lèo được thêm vào thịt heo hay heo quay, cá bông lau hay cá catfish, tôm, mực, cà tím,... Vị cá mắm thấm ngấm vào cá, tôm, mực và thịt. Mắm kho ngon nhờ rau ghém như rau sống, rau đắng, bắp chuối, ngó sen, rau muống chẻ, giá, bông súng, bông so đũa, bông điên điển, soài sống,... Mắm kho ăn với cơm hoặc bún.
Lẩu mắm
Lẩu mắm như món mắm kho nêu trên về cách làm. Nước lèo được đặt trên nồi lẩu để giữ độ sôi sục liên tục. Thịt, cá, tôm, mực là đồ để thực khách nhúng vào nước lèo. Lẩu mắm cần nhiều rau như các loại ở quê nhà: đọt nhút, rau dừa, bông so đũa, bông súng, bông điên điển, bắp chuối,... và đậu rồng, đậu bắp, chuối chát, khế, soài chua. Món này nên ăn với bún, hoặc cuốn bánh tráng
Mắm ruốc:
Mắm ruốc là mắm làm từ con ruốc, một loại con tép riu, màu đỏ nâu, đặc mịn, thơm mùi mắm, mắm ruốc có nhiều ở miền trung hay Vũng Tàu. Tuy mắm ruốc trông giống mắm tôm, nhưng màu sắc và mùi vị không giống mắm tôm. Mắm ruốc không tanh bằng mắm tôm, có thể pha thêm nước, chanh, đường tỏi ớt khi làm nước chấm và có thể dùng làm gia vị xào hay nấu, như mắm ruốc xào thịt ba rọi với sả ớt.
oOo
Trong suốt bài này, mắm được trình bày như món ăn truyền thống đặc sắc của người miền Nam. Vì các loại mắm được trích dẫn hay bàn luận xuất phát từ miền đồng bằng sông Cửu Long. Thức ăn hay ẩm thực là một khía cạnh của văn hóa. Như vậy mắm là một di sản văn hóa dân tộc vậy, nó phản ảnh từ nơi xuất phát rồi lan đi khắp năm châu, cuốn theo làn sóng và cuộc sống lưu lạc của người Việt Nam ly hương ngày nay. Thật vậy, mắm là di sản quê hương.
Hoàng Tiểu Ca
(Nguồn: Chim Việt Cành Nam)
|
|
| | << Bắt đầu < Trước 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp > Cuối >>
|
|
|
|
|